MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2016

3/22/2016

          1. Tài chính, ngân hàng

          1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nước

          Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 29/02/2016 đạt 1.239,3 tỷ đồng, bằng 51,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 739,8 tỷ đồng, chiếm 59,7% tổng số, bằng 143,13% so với cùng kỳ; thu hải quan đạt 245,9 tỷ đồng, chiếm 19,84% tổng số, bằng 17% so với cùng kỳ; thu chuyển nguồn đạt 244,9 tỷ đồng, chiếm 19,76% tổng số, bằng 68,45% so với cùng kỳ. Như vậy, thu ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù thu nội địa tăng cao nhưng do thu hải quan giảm mạnh vì hàng hóa nhập khẩu giảm nên đã tác động đến tổng thu.

          Tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 29/02/2016 đạt 2.479,6 tỷ đồng, bằng 71,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi đầu tư phát triển 400,8 tỷ đồng, bằng 32,92% so với cùng kỳ; chi thường xuyên 872,7 tỷ đồng, bằng 81,41% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới 1.203 tỷ đồng, bằng 104% so với cùng kỳ. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ đột xuất phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn NSTW.

          1.2. Hoạt động ngân hàng

  Trong qúy I năm 2016 NHNN NHNN tỉnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định.     Tình hình huy động vốn và cho vay diễn ra sôi động. Nguồn vốn đầu tư kinh doanh thời điểm cuối năm và dư nợ tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh tăng. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN, không có hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động dưới 6 tháng bình quân dưới 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 tháng đến dưới 12 tháng bình quân từ trên 5,5% đến 7,2%/năm; lãi suất huy động trên 12 tháng bình quân từ trên 7,2% đến 8%/năm. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường; các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá.

  - Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến ngày 29/02/2016 đạt 30.918 tỷ đồng, tăng 0,89% so với đầu năm. Ước tính đến 31/3/2016, nguồn vốn huy động đạt 31.080 tỷ đồng, tăng 1,41% so với đầu năm. Nguồn vốn có xu hướng tăng phù hợp với xu hướng chung.

- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên toàn địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, nhờ đó dư nợ của các tổ chức tín dụng tăng tương đối mạnh. Dư nợ cho vay các chương trình ưu đãi không ngừng tăng lên, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng giá rẻ để phục vụ đời sống cũng như phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế trên địa bàn phát triển.

Dư nợ cho vay đến 29/02/2016 đạt 26.918 tỷ đồng, tăng 0,32% so với đầu năm. Ước tính đến 31/3/2016 tổng dư nợ đạt 27.167 tỷ đồng, tăng 1,25% so với đầu năm. Trong đó, doanh số cho vay các nhóm ưu tiên đến 29/02/2016 là 14.152 tỷ đồng, chiếm 52,57% tổng dư nợ, giảm 1,29% so với đầu năm.

- Chất lượng tín dụng: Tính đến thời điểm 29/02/2016, nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1) đạt 25.876 tỷ đồng, chiếm 96,13% tổng dư nợ, giảm 0,52% so với đầu năm; nợ cần chú ý (nhóm 2) là 624 tỷ đồng, chiếm 2,32% tổng dư nợ, tăng 47,41% so với đầu năm; nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) là 418 tỷ đồng, chiếm 1,55% tổng dư nợ.      

- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát; công tác thông tin truyền thông và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.

          2. Đầu tư và xây dựng

          2.1. Đầu tư  phát triển

          Hà Tĩnh tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các cơ quan ngoại giao để xúc tiến, vận động, thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài (ODA, FDI), các dự án đầu tư theo hình thức BOT... phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là Khu kinh tế Vũng Áng, Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và ba đô thị (thành phố Hà Tĩnh, thị xã Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh). Tuy nhiên, dự án Formosa đã hoàn thành đi vào chạy thử, vốn đầu tư thực hiện dự ước bằng 30% so với năm 2015, do đó vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh quý I năm 2016 dự ước giảm mạnh.         

          Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý I/2016 ước đạt 11.061,4 tỷ đồng, bằng 58,44% so với quý IV/2015 và bằng 46,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Nhà nước ước đạt 1.254,8 tỷ đồng, chiếm 11,34% tổng vốn, bằng 65,78% so với quý trước và bằng 82,82% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 2.534,3 tỷ đồng, chiếm 22,91% tổng vốn, bằng 78,87% so với quý trước và bằng 137,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 7.272,3 tỷ đồng, chiếm 65,74% tổng vốn, bằng 52,68% so với quý trước và bằng 36,06% so với cùng kỳ năm trước.

          Phân theo khoản mục đầu tư: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 10.039,7 tỷ đồng, chiếm 90,76% tổng vốn, bằng 55,07% so với quý trước và bằng 44,98% so với cùng kỳ năm trước; các khoản mục đầu tư khác ước đạt 1.021,7 tỷ đồng, chiếm 9,24% tổng vốn, bằng 146,67% so với quý trước và bằng 77,78% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn trong quý I/2016 vẫn chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 65,74% tổng vốn và được tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản chiếm 90,76% tổng vốn.

Quý I/2016 tổng vốn đầu tư phát triển giảm mạnh so với quý trước chủ yếu do nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 44,32%, nguồn vốn Nhà nước giảm 34,22% và ngoài Nhà nước giảm 21,13% so với quý trước. Vốn Nhà nước giảm so với quý trước do quý I trùng vào dịp nghỉ Tết dài ngày, mặt khác do quá trình hoàn tất thủ tục và tổ chức đấu thầu thực hiện còn chậm nên một số công trình mới vẫn chưa được thực hiện, tình hình giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn ODA các tháng đầu năm đạt thấp; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất giảm mạnh do công trình đã chạy thử chỉ còn một số hạng mục công trình đang thi công, nên tổng vốn đầu tư phát triển giảm mạnh so với quý trước và so với cùng kỳ năm 2015.

          2.2. Xây dựng

          Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2016 theo giá hiện hành ước đạt 7.057,4 tỷ đồng, bằng 79,48% so với quý IV/2015 và bằng 57,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Giá trị sản xuất do khối doanh nghiệp xây dựng thực hiện ước đạt 5.636,3 tỷ đồng, chiếm 79,86% tổng số, bằng 78,44% so với quý trước và bằng 51,9% so với cùng kỳ năm trước; giá trị sản xuất do các xã, phường, thị trấn thực hiện ước đạt 77,6 tỷ đồng, chiếm 1,1% tổng số, bằng 37,14% so với quý trước và bằng 130,35% so với cùng kỳ năm trước; giá trị sản xuất do các hộ dân cư thực hiện ước đạt 1.343,5 tỷ đồng, chiếm 19,04% tổng số, bằng 90,42% so với quý trước và bằng 100,85% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, hoạt động sản xuất ngành xây dựng quý I/2016 có xu hướng giảm mạnh so với các quý trước. Do quý I trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán nên các hoạt động xây dựng khu vực xã, phường tạm ngừng để tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí là nguyên nhân làm giá trị xây dựng khu vực này thấp. Mặt khác, những tháng đầu năm một số doanh nghiệp chưa có công trình mới; Nhà máy Gang thép Formosa đang trong giai đoạn chạy thử, chỉ còn một số hạng mục vẫn còn đầu tư xây dựng. Dự kiến trong quý I, dự án này đầu tư 330,4 triệu USD trong đó giá trị hoạt động xây dựng ước đạt 157,3 triệu USD (tương đương 3.461 tỷ đồng). Các dự án khác trên địa bàn cũng như Chương trình mục tiêu Quốc gia có xu hướng chậm lại so các quý trước. Đây cũng chính là những yếu tố làm cho giá trị hoạt động xây dựng quý I/2016 giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2015.

3. Sản xuất công nghiệp

          Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2016 bằng 119,79% (tăng 19,79%) so với tháng trước và bằng 121,32% (tăng 21,32%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp khai khoáng tăng 30,4% so với tháng trước và giảm 3,54% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,16% so với tháng trước và tăng 26,36% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,35% so với tháng trước và tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,64% so với tháng trước và tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước.

          Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 3/2016 đạt mức tăng trưởng khá và tăng ở 3 ngành công nghiệp cấp I. Ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số phát triển sản xuất tăng so với tháng trước (tăng 30,4%) do Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh trong những tháng qua cũng đã đẩy mạnh hoạt động sản xuất khai thác nên dự ước chỉ số phát triển công nghiệp khai thác quăng kim loại tháng 3/2016 tăng 9,46% so với tháng trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá, chỉ số sản xuất dự ước tăng 20,16% so với tháng trước và tăng chủ yếu ở một số ngành sản xuất như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 67,05%; sản xuất đồ uống tăng 32,71%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim tăng 45%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 45,89%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 41,29%. Đối với ngành công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,35% so với tháng trước. Mặc dù cả 2 tổ máy của Công ty điện lực dầu khí Hà Tĩnh đã phát điện thương mại nhưng trong tháng 02, chỉ có Tổ máy 2 khởi động hòa lưới liên tục, Tổ máy số 01 đang trong quá trình khắc phục sự cố độ rung gối trục tuabin. Tháng 3/2016, dự kiến chỉ có tổ máy 2 hoạt động, tổ máy 1 tiếp tục ngừng cả tháng. Bên cạnh đó, Nhà máy Nhiệt điện Formosa trong tháng 02 đã sản xuất được 96,6 triệu kwh, sử dụng 53,2 triệu kwh phục vụ các hạng mục luyện thép và 43,4 triệu kwh còn lại bán cho EVN để hòa lưới điện quốc gia. Chỉ số phát triển sản xuất điện sản xuất tháng 02 tăng 15,91% so cùng kỳ, dự ước tháng 3 tăng 11,44% so tháng trước chính là yếu tố làm ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng lên.

          Tính chung 3 tháng đầu năm 2016 thì chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá (tăng 25,40%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp khai khoáng tăng 2,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,15%; công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,41%; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước. Góp phần vào tốc độ tăng chung có các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động từ những năm trước phát huy công suất, trong đó tốc độ tăng khá là các doanh nghiệp hoạt động ngành sản xuất thức ăn gia súc; bia; sợi. Bên cạnh đó, phải kể đến doanh nghiệp mới đi vào hoạt động có giá trị sản xuất lớn như: Công ty điện lực dầu khí Hà Tĩnh, với dự án nhiệt điện Vũng Áng 1 là dự án trọng điểm Quốc gia, dự ước 3 tháng đầu năm 2016 đóng góp cho lưới điện quốc gia 784,08 triệu kwh; Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh dự  ước 3 tháng đầu năm sản xuất đạt 30.636 tấn thép. Bên cạnh một số ngành hoạt động hiệu quả vẫn còn một số ngành có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng sản xuất giảm so với cùng kỳ như: Chế biến thịt và các sản phẩm từ thịt; sản xuất tinh bột; chế biến thủy sản.

          Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý I/2016 được điều tra thu thập thông tin tại 27 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 44,44% số doanh nghiệp được điều tra đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh quý I/2016 tốt lên so với quý trước, 29,63% đánh giá không thay đổi và 25,93% đánh giá có sự kém hơn. Nhận định về sản xuất kinh doanh quý II/2016 so với quý I/2016 có 81,49% doanh nghiệp dự báo sẽ kinh doanh tốt lên và giữ ổn định (tăng 10% so quý trước), chia theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực Nhà nước với 75% doanh nghiệp có tình hình sản xuất tốt lên hoặc giữ nguyên so với quý trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 90,47% đánh giá tốt lên hoặc giữ nguyên; khu vực doanh nghiệp FDI 100% doanh nghiệp đều nhận định tình hình sản xuất khó khăn hơn. Bên cạnh đó, về số lượng đơn đặt hàng trong quý I/2016 thì có 38,46% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 7,69% giảm đi; 75% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng lên hoặc giữ nguyên; 66,67% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm; 59,26% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 7,41% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm chính giảm;14,81% doanh nghiệp có giá bán bình quân một sản phẩm giảm. Dự kiến quý II/2016 so quý I/2016 có 61,54% có số lượng đơn đặt hàng mới tăng; 30,77% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 77,78% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm; 70,37% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm. Như vậy, với kết quả khảo sát trên thì hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn quý I/2016 là tương đối thuận lợi và dự kiến quý II/2016 sẽ khả quan hơn. Đây sẽ là tín hiệu tích cực cho hoạt động sản xuất công nghiệp trong quý II/2016.

          4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tính từ đầu năm đến cuối tháng 02/2016, toàn tỉnh có 124 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó loại hình công ty TNHH chiếm 70,16%), với tổng vốn đăng ký là 1.464,7 tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký đạt 11,8 tỷ đồng/doanh nghiệp.

Hai tháng đầu năm đã tiến hành cấp đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp cho 01 doanh nghiệp; cấp đăng ký thay đổi người đại diện cho 11 doanh nghiệp; cấp đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở 29 doanh nghiệp; cấp đăng ký thay đổi ngành nghề kinh doanh cho 45 doanh nghiệp, các doanh nghiệp đăng ký thay đổi chủ yếu thuộc loại hình công ty cổ phần và công ty TNHH 1 thành viên.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động trong 2 tháng đầu năm 2016 là 36 doanh nghiệp, trong đó: 7 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể, 29 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động. Chưa có doanh nghiệp nào bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh do vi phạm hay bị phá sản.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong quý I/2016 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn đang gặp nhiều khó khăn do tác động của kinh tế trong nước và thế giới. Hiện nay khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào ngày càng tăng. Khó khăn về nguồn vốn phần nào đã được giải quyết nhờ những chính sách của Nhà nước về giảm lãi suất và cho vay ưu đãi đối với một số ngành, lĩnh vực.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

               5.1. Nông nghiệp

          - Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong quý I/2016, tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông và gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân năm 2016.

          + Sản xuất vụ Đông năm 2015-2016: Sản xuất vụ Đông năm nay trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp, sự cố gắng nổ lực của bà con nông dân nên tổng diện tích gieo trồng các loại cây vụ Đông năm 2015-2016 đạt 11.488 ha, bằng 116,36%, tăng 1.615 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo trồng tăng như: Hương Khê tăng 311 ha, Đức Thọ tăng 185 ha, Vũ Quang tăng 47 ha, Thành phố Hà Tĩnh tăng 26 ha...Bên cạnh đó, các huyện có diện tích gieo trồng giảm như: Hương Sơn giảm 285 ha, Lộc Hà giảm 28 ha, huyện Kỳ Anh giảm 24 ha...Kết quả sản xuất các loại cây trồng vụ Đông cụ thể như sau: Diện tích ngô đạt 3.974 ha, bằng 107,73%, tăng 285 ha. Năng suất ngô đạt 34,12 tạ/ha, bằng 109,97%, tăng 3,09 tạ/ha với sản lượng ngô đạt 13.559 tấn, bằng 118,46%, tăng 2.113 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do điều kiện thời tiết nắng ấm nên kết quả sản xuất ngô tăng cả diện tích và năng suất nên đã làm cho sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước. Diện tích ngô tăng 285 ha làm cho sản lượng ngô tăng 885 tấn và năng suất ngô tăng 3,09 tạ/ha làm cho sản lượng ngô tăng 1.228 tấn. Diện tích khoai lang đạt 2.407 ha, bằng 103,22%, tăng 75 ha. Năng suất khoai lang đạt 57,42 tạ/ha, bằng 106,7%, tăng 3,62 tạ/ha với sản lượng khoai lang đạt 13.822 tấn, bằng 110,17%, tăng 1.276 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích khoai lang tăng như: Thạch Hà tăng 121 ha, Lộc Hà tăng 88 ha, Hương Sơn tăng 27 ha...các huyện có diện tích khoai lang giảm như: Nghi Xuân giảm 68 ha, Can Lộc giảm 66 ha...Diện tích lạc đạt 24 ha, bằng 50,0%, giảm 24 ha. Năng suất lạc đạt 16,25 tạ/ha, bằng 109,86%, tăng 1,46 tạ/ha với sản lượng lạc ước đạt 39 tấn, bằng 54,93%, giảm 32 tấn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rau các loại đạt 3.765 ha, bằng 112,42%, tăng 416 ha. Năng suất rau đạt 54,45 tạ/ha, bằng 99,85%, giảm 0,08 tạ/ha với sản lượng rau đạt 20.499 tấn, bằng 112,25%, tăng 2.237 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích rau tăng như: Thạch Hà tăng 208 ha, Thành phố Hà Tĩnh tăng 58  ha, Cẩm Xuyên tăng 56 ha, Hương Khê tăng 35 ha, Hương Sơn tăng 34 ha...các huyện có diện tích rau giảm như: Lộc Hà giảm 28 ha, Nghi Xuân giảm 16 ha...Mô hình trồng rau trên đất cát ở các huyện ven biển tiếp tục phát triển mở rộng quy mô sản xuất, vụ Đông năm nay đã gieo trồng 73 ha, tăng 25 ha so với cùng kỳ năm trước, đây tiếp tục là hướng sản xuất được lựa chọn đối với điều kiện đất đai của các xã ven biển. 

          + Sản xuất vụ Xuân năm 2016: Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất vụ Xuân năm 2016 trên cả 3 tiêu chí diện tích, năng suất và sản lượng. Các cấp, các ngành và bà con nông dân đã triển khai thực hiện đảm bảo Đề án sản xuất vụ Xuân 2016 gắn với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số 1373/QĐ-UBND ngày 19/5/2014 của UBND tỉnh. Tập trung chỉ đạo quyết liệt với các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng nông dân bỏ hoang đất sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo mô hình cánh đồng lớn gắn với tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, tiếp tục chỉ đạo sử dụng các giống ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao. Sản xuất trà Xuân muộn là chính với trên 90% tổng diện tích, chỉ bố trí trà Xuân trung hợp lý ở một số vùng đặc thù. Nhìn chung, việc thay đổi mùa vụ đã được tuân thủ, cơ bản sản xuất đúng lịch thời vụ, sử dụng cơ cấu bộ giống lúa ngắn ngày và mở rộng lúa ưu thế lai trong nhóm ngắn ngày với việc xác định giống lúa chủ lực sản xuất là: Thiên ưu 8, HT1, N98, N87, Bắc thơm 7, PC6, P6, Nhị ưu 838, Bte-1, TH3-3, TH3-5; nhóm giống đặc thù là các giống KD18, KDĐB, XM12 để bố trí sản xuất ở các vùng đất pha cát thuộc các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà,...Các giống Xi23, NX 30 bố trí ở các vùng thấp trũng, chua phèn, khó khăn về thuỷ lợi thuộc các huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà,...Các giống lúa lai: Thục Hưng 6, Đại Dương 8 bố trí các vùng thâm canh huyện Hương Sơn. Nhóm giống đưa vào sản xuất thử và khu vực hoá gồm: N25, XT28, OM4218, BT 09, Hoa Khôi 4, TBR45, SV 181...Cùng với sản xuất lúa thì giống các loại cây trồng khác cũng được quan tâm chỉ đạo với phương châm đưa vào sản xuất các loại giống có năng suất và giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện từng vùng nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế sẵn có. Sử dụng các giống lạc như: L14, V79, L23, Sen lai...tiếp tục sản xuất thử giống L27. Sử dụng nhóm giống cao sản lấy hạt như: CP3Q, P4199, NK66, NK6326, NK4300, LVN10, LVN4, CP333, CPA88, 30Y87, CP999, CP989, PAC 999…và nhóm giống ngắn ngày: MX4, MX2...Khuyến cáo một số giống ngô có năng suất thân lá cao để sản xuất làm thức ăn chăn nuôi như: NK7328, NK6326, P4199…

          Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết rét đậm, rét hại từ ngày 23 đến 28 tháng 01/2016 đã gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê sơ bộ, số diện tích lúa gieo cấy bị ngập úng chết rét trên 70% là 7.331 ha. Một số địa phương bị ảnh hưởng lớn như: Huyện Hương Khê, huyện Thạch Hà, huyện Can lộc…Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 02/CĐ-UBND ngày 01/02/2016 về việc chỉ đạo bổ cứu sản xuất vụ Xuân năm 2016. Một trong những giải pháp đó là đối với diện tích bị chết trên 50% phải kịp thời gieo cấy lại ngay. Giống lúa SV181 và OM4218 là 2 loại giống trở thành sự lựa chọn tối ưu cho việc khôi phục sản xuất lần này. Đây là những dòng giống khẳng định được những ưu việt trên đồng ruộng, đặc biệt là thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 100 ngày), đáp ứng được yêu cầu “chạy nước rút” với thời vụ bổ cứu. Với sự chỉ đạo xuyên suốt, đồng bộ của các cấp, các ngành và sự nổ lực của bà con nông dân thì 65,8 tấn giống lúa ứng cứu cho gần 6.400 ha lúa bị chết đã được chuyển về tận hộ dân và được triển khai gieo cấy kịp thời. Hiện nay, tất cả số giống cung ứng về các địa phương đạt tỷ lệ nảy mầm cao và bà con nông dân đã hoàn thành công tác xuống giống. Như vậy, đến thời điểm này thì cơ bản diện tích lúa bị chết đã được bổ cứu kịp thời, lúa gieo đã hoàn thành kế hoạch toàn bộ diện tích và lúa cấy cũng sẽ hoàn thành. Thời vụ sản xuất lúa vụ Xuân năm nay vẫn nằm trong ngưỡng an toàn.  

          Tiến độ sản xuất vụ Xuân tính đến ngày 15/3/2016: Toàn tỉnh đã gieo cấy được 58.104 ha lúa, bằng 103,09% (tăng 1.742 ha) so với kế hoạch và bằng 100,32% (tăng 183 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích lúa gieo thẳng chiếm 75,77% tổng diện tích và diện tích lúa cấy chiếm 24,23% tổng diện tích; diện tích gieo cấy chủ yếu là trà Xuân muộn với 54.207 ha, chiếm 93,27%, trà Xuân trung 3.897 ha, chiếm 6,73% và đã bỏ hẵn trà Xuân sớm. Diện tích ngô ước đạt 3.786 ha, bằng 87,80% (giảm 526 ha) so với kế hoạch và bằng 101,26% (tăng 47 ha) so với cùng kỳ. Diện tích khoai lang ước đạt 2.004 ha, bằng 84,06% (giảm 380 ha) so với kế hoạch và bằng 113,35% (tăng 236 ha) so với cùng kỳ. Diện tích lạc ước đạt 14.342 ha, bằng 87,96% (giảm 1.963 ha) so với kế hoạch và bằng 93,73% (giảm 960 ha) so với cùng kỳ. Diện tích rau, đậu các loại ước đạt 4.828 ha, bằng 99,55% (giảm 22 ha) so với kế hoạch và bằng 103,69% (tăng 172 ha) so với cùng kỳ. Như vậy, diện tích cây hoa màu vụ Xuân gieo trồng vẫn đạt thấp so với kế hoạch, nguyên nhân do đợt rét đậm và rét hại kèm theo mưa đã làm cho đất bị ẩm ướt nên đã không gieo trỉa được theo kế hoạch. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang được bà con nông dân tích cực chăm sóc, lúa Xuân đang trong giai đoạn đẻ nhánh.

          Do điều kiện thời tiết mưa, nắng đan xen độ ẩm không khí cao trong khi các loại cây trồng đang trong giai đoạn phát triển về thân lá nên đã xuất hiện một số sâu bệnh phá hoại hoa màu. Tính đến ngày 15/3/2016, trên địa bàn toàn tỉnh bệnh đạo ôn đã xuất hiện rãi rác gây hại trên các giống lúa P6, Xi23, NX30 với tỷ lệ nơi nhiểm cao là 3%, phân bố ở các huyện: Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Vũ Quang, Lộc Hà...Bọ trĩ, ruồi đục nõn xuất hiện gây hại với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 12-15% chủ yếu ở các huyện Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Can Lộc...với diện tích lúa bị nhiễm bệnh là 17 ha. Bệnh tuyến trùng rễ phát sinh gây hại trên lúa gieo thẳng trà Xuân muộn, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 10-12% với diện tích nhiễm bệnh là 10ha, phân bố ở các huyện Thạch Hà, huyện Kỳ Anh, Can Lộc…Bệnh nghẹt rễ sinh lý phát sinh gây hại trên lúa giai đoạn đẻ nhánh tại huyện Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà...tỷ lệ trung bình 5-15%, nơi cao 40-50% với diện tích nhiễm bệnh là 20 ha. Chuột cũng gây hại trên các chân ruộng ven làng, ở các vùng Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Hương Sơn…với tỷ lệ trung bình 3-5%, cục bộ 7-10%, diện tích bị chuột phá hoại là 8ha. Ốc bươu vàng phát sinh gây hại 1-3%, cục bộ 10-12% với diện tích lúa bị hại là 1ha, phân bố ở các huyện Đức Thọ, Thạch Hà, Lộc Hà, Can Lộc...Trên cây ngô cũng đã xuất hiện sâu xám với tỷ lệ gây hại nơi cao 3-5%, phân bố ở Đức Thọ, Vũ Quang, Thị xã Hồng Lĩnh...Bệnh xoắn lùn với tỷ lệ gây hại trung bình 1-3%, nơi cao 4-5%, phân bố ở Hương Sơn, Đức Thọ. Trên cây rau, đậu thì nhóm sâu ăn lá phát sinh gây hại với mật độ trung bình 7-10 con/m­2 , với diện tích nhiểm bệnh là 2 ha; rệp gây hại với tỷ lệ nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm bệnh là 2ha; bọ nhảy gây hại mật độ trung bình 15-20con/m2, nơi cao 25-30con/m2, diện tích nhiễm 3ha, phân bố ở Thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà...Hiện nay, các ngành chức năng đang cùng bà con nông dân theo sát diễn biến của các loại sâu bệnh để phòng ngừa và xử lý kịp thời. Do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết nên thời gian tới các loại sâu bệnh tiếp tục phát sinh gây hại trên diện tích các loại cây trồng. Vì vậy, để tránh thiệt hại do sâu bệnh gây ra, bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, kiểm tra và phòng chống kịp thời khi phát hiện các loại sâu bệnh. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần phải vào cuộc kịp thời, tích cực để cùng bà con nông dân phòng trừ các loại sâu bệnh nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và đảm bảo sản xuất vụ Xuân 2016 thắng lợi toàn diện.

          Bên cạnh việc gieo trồng cây hàng năm, chủ trương xóa bỏ vườn tạp, thay thế các loại cây gỗ nguyên liệu giá trị kinh tế thấp bằng các loại cây ăn quả đã được người dân miền núi hưởng ứng tích cực và bước đầu đem lại hiệu quả. Nhiều địa phương đã có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển các loại cây ăn quả có múi và xem đây là những sản phẩm chủ lực, mũi đột phá trong phát triển nông nghiệp của địa phương. Trong quý I/2016, diện tích trồng mới cây ăn quả ước đạt 415 ha, giảm 259 ha so với cùng kỳ năm 2015, nguyên nhân do thời tiết rét đậm và sương muối nên một số diện tích trồng mới bị chết.

           Trên cây ăn quả có múi cũng đã xuất hiện bệnh muội đen với tỷ lệ gây hại nơi cao 5-7%. Bệnh loét, sẹo với tỷ lệ gây hại 1-3%, nơi cao 5-7%. Rầy chổng cánh với tỷ lệ gây hại trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%. Bệnh chảy gôm phát sinh gây hại vườn cây ăn quả già cỗi, tỷ lệ gây hại trung bình 0,5-1% cành, nơi cao 3-5% cành. Các loại sâu bệnh trên chủ yếu tập trung ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang…Trên cây chè thì bệnh phồng lá phát sinh gây hại với tỷ lệ trung bình 1-4%, phân bố Vũ Quang, Hương Sơn…Trên cây thông thì sâu róm cũng đã phát sinh gây hại với mật độ 2 con/cành, nơi cao 5 con/cành.              

          - Chăn nuôi: Quý I/2016, tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác trên địa bàn vẫn ổn định, tổng đàn chăn nuôi phát triển khá, sản phẩm chăn nuôi đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân.

          Tổng đàn gia súc trâu, bò ước tính hiện có 277.684 con, bằng 110,45%, tăng 26.265 con so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Đàn trâu ước tính có 82.175 con, tăng 3.860 con so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt trâu xuất chuồng trong quý I/2016 ước tính 1.282 tấn, bằng 108,71%, tăng 103 tấn so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước tính có 195.509 con, bằng 112,94%, tăng 22.405 con so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt bò xuất chuồng trong quý I/2016 ước tính 2.924 tấn, bằng 108,34%, tăng 225 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân làm cho đàn đại gia súc tăng so với cùng kỳ là do các doanh nghiệp đã đầu tư các dự án chăn nuôi bò giống, bò thịt chất lượng cao với quy mô lớn: Dự án bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà với quy mô 150.000 con/năm, hiện đã nhập về nuôi 23.000 con (tại trang trại ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh); dự án của Tổng công ty KSTM Hà Tĩnh quy mô 1.000 con bò cái sinh sản; chăn nuôi bò sữa theo hình thức liên kết với công ty CP sữa Việt Nam - Vinamilk với tổng đàn bò sữa hiện có là 2.430 con (trang trại bò sữa tại xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn 2.000 con; xã Thường Nga, huyện Can Lộc 260 con; xã Đức Dũng, huyện Đức Thọ 170 con). Bên cạnh đó, các hộ chăn nuôi cũng đã đầu tư phát triển chăn nuôi trâu bò nên đã làm cho tổng đàn tăng.

          Đàn lợn ước tính hiện có 479.812 con, bằng 114,1%, tăng 59.291 con so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong quý I/2016 ước tính 20.299 tấn, bằng 114,51%, tăng 2.572 tấn so với cùng kỳ năm trước. Phương thức chăn nuôi lợn tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Bên cạnh việc phát triển nhanh các cơ sở chăn nuôi liên kết với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn theo chuỗi khép kín là việc xây dựng các mô hình chăn nuôi quy mô nhỏ liên kết một, hoặc một số khâu trong quy trình sản xuất với các doanh nghiệp thông qua THT, HTX. Nâng cấp, xây dựng mới 17 cơ sở nái quy mô 300-1.200 con, nâng số cơ sở lợn nái cấp ông bà, bố mẹ lên 45 cơ sở quy mô 50 con trở lên, với tổng đàn nái ngoại đạt 15.300 con. Trong đó, đưa giống vào sản xuất tại 15 cơ sở nái ngoại quy mô từ 300 con trở lên cung cấp lợn giống thương phẩm cho chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ liên kết với doanh nghiệp, với số lượng 5.188 con (5.086 con nái, 102 con đực), đã có 14 cơ sở có giống cung ứng cho các THT, HTX trên địa bàn với số lượng hơn 12.000 con. Đến nay, toàn tỉnh có 158 cơ sở chăn nuôi lợn quy mô từ 300 - 6.000 con/lứa liên kết với các doanh nghiệp (tăng 133 cơ sở so với 2011); thành lập được 58 HTX, 230 THT chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ, trong đó có 27 HTX, 124 THT liên kết với doanh nghiệp, với quy mô hơn 75.631 con/lứa.

          Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 6.445 ngàn con, bằng 110,32%, tăng 603 ngàn con so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước tính hiện có 5.149 ngàn con, bằng 118,91%, tăng 819 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Do kiểm soát được dịch bệnh nên đàn gia cầm phát triển khá, giá gia cầm rẻ hơn nhiều so với giá thịt trâu, thịt bò nên sản lượng tiêu thụ cao hơn năm trước. Sản lượng thịt gia cầm quý I/2016 ước đạt 3.900 tấn, bằng 106,27%, tăng 230 tấn so với cùng kỳ năm trước.Trong đó sản lượng thịt gà ước đạt 3.150 tấn, bằng 107,62%, tăng 223 tấn so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm hiện nay phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều mô hình trang trại, hợp tác xã, gia trại gia cầm phát triển mạnh. Việc chọn lọc, nâng cao chất lượng các giống gia cầm địa phương có giá trị và du nhập các giống gia cầm có giá trị kinh tế cao đang có xu hướng tăng như chăn nuôi gà Đông Tảo, vịt trời, gà lôi...Các cơ sở ấp nở gia cầm được đầu tư nâng cấp để tạo ra con giống sạch bệnh, chất lượng tốt cung cấp cho người chăn nuôi.

          Là dịp tiêu thụ và giết mổ gia cầm nhiều nên công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi được tăng cường. Tuy nhiên trong quý I/2016 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng đối với trâu, bò, lợn tại các huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà, cụ thể: Tại xã Cẩm Mỹ và xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên có 16 con trâu, 52 con bò và 37 con lợn bị bệnh. Có 1 con trâu và 18 con lợn bị chết; tại xã các xã Kỳ Phú, Kỳ Lâm, Kỳ Hợp, huyện Kỳ Anh có 18 con trâu và 74 con bò bị bệnh; xã Thạch Lưu, huyện Thạch Hà có 9 con trâu, 20 con bò bị bệnh và có 1 con bò bị chết. Như vậy, số gia súc bị nhiễm bệnh trong quý I năm 2016 tính đến ngày 8/3/2016 là 226 con, trong đó 43 con trâu, 146 con bò và 37 con lợn; số con bị chết tiêu hủy là 20 con (1 con trâu, 1 con bò và 18 con lợn). Chi cục Thú Y đã lập 8 chốt kiểm dịch, lập cam kết với 110 hộ dân, bấm thẻ tai 45 con trâu bò, rắc 7.700 kg vôi bột, phun 240 lít hóa chất để dập dịch. Đến thời điểm hiện tại không có dịch trên gia súc, gia cầm. Bên cạnh thiệt hại đối với ngành chăn nuôi vì dịch bệnh, do tình hình thời tiết rét đậm, rét hại xẩy ra trên địa bàn (từ ngày 22/01/2016 đến ngày 28/01/2016) đã làm cho 208 con gia súc bị chết, cụ thể: Huyện Kỳ Anh 86 con, Hương Khê 55 con, Thị xã Kỳ Anh 44 con, Nghi Xuân 10 con, Can lộc 9 con và Vũ Quang 4 con.

          5.2. Lâm nghiệp

          - Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong quý I/2016, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Bính Thân nên toàn tỉnh dự ước trồng được 1.048 ha rừng tập trung, bằng 114,16%, tăng 130 ha và 2.435,6 ngàn cây phân tán, bằng 98,91%, giảm 26,8 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Huyện Hương Sơn trồng 180 ha rừng và 420 ngàn cây phân tán, Can Lộc trồng 30 ha rừng và 200 ngàn cây phân tán, Thạch Hà trồng 235 ha rừng và 160 ngàn cây phân tán, Cẩm Xuyên trồng 126 ha rừng và 1.280 ngàn cây phân tán...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng trong quý vẫn được duy trì thực hiện.

          - Khai thác gỗ và lâm sản: Trong quý I/2016, toàn tỉnh dự ước khai thác đạt 12.972 m3 gỗ, bằng 81,73%, giảm 2899 m3 so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 149.611 Ste củi, bằng 106,10%, tăng 8603 Ste so với cùng kỳ năm trước. Huyện Hương Khê khai thác 1.170 m3 gỗ và 8.730 Ste củi; huyện Hương Sơn khai thác 1.450 m3 gỗ và 23.000 Ste củi; huyện Vũ Quang khai thác 890 m3 gỗ và 3.715 Ste củi; huyện Cẩm Xuyên khai thác 3.620 m3 gỗ và 12.270 Ste củi; huyện Kỳ Anh khai thác 708 m3 gỗ và 23.547 Ste củi; huyện Thạch Hà khai thác 3.522 m3 gỗ và  40.500 Ste củi...Nguyên nhân khai thác gỗ trong quý giảm là do một số diện tích rừng trồng chưa đến tuổi thu hoạch.

          - Thiệt hại rừng: Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành và các hộ dân liên quan triển khai thực hiện một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, ngày 13/02/2016 đã xẩy ra một vụ cháy rừng phòng hộ tại Phường Đậu Liêu, Thị xã Hồng Lĩnh gây thiệt hại 3.000 m2 rừng thông.

          5.3. Thuỷ sản

          Trong quý I năm 2016, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 5.098 ha, bằng 95,11%, giảm 262 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích xuống giống thả nuôi trong quý ước đạt 1.718 ha, bằng 95,13%, giảm 88 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nuôi trồng thủy sản giảm so với cùng kỳ do thời tiết rét đậm rét, rét hại kéo dài nên không thuận lợi cho việc thả giống. Trong quý I/2016 chủ yếu thả nuôi diện tích nước ngọt, còn diện tích nước lợ và nước mặn dự tính sẽ thả giống đại trà vào đầu quý II/2016.

          Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng quý I/2016 ước đạt 9.916 tấn, bằng 103,44%, tăng 330 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

          Sản lượng khai thác ước đạt 7.351 tấn, bằng 104,57%, tăng 321 tấn so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thuỷ hải sản trong thời gian qua tương thuận lợi, giữa tháng hai giá xăng dầu giảm đã làm cho chi phí khai thác giảm nên bà con ngư dân tích cực bám biển. Năng lực khai thác của các đội tàu cá hoạt động khai thác trên biển và dịch vụ hậu cần nghề cá ngày càng phát triển. Cảng cá Cửa Sót, Cửa Hội và khu neo đậu Cửa Nhượng, Cửa Sót ngày càng phát huy hiệu quả sử dụng. Khu neo đậu Kỳ Hà, Xuân Hội, Kỳ Phương đang được khẩn trương thi công xây dựng. Ngư dân tiếp tục đóng mới, cải hoán nâng cấp công suất máy tàu để khai thác vùng lộng, vùng khơi nhằm đạt được hiệu quả đánh bắt cao hơn. 

          Sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.565 tấn, bằng 100,35%, tăng 9 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng quý I/2016 chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ do thời tiết không thuận lợi đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi trồng giảm đã làm giảm sản lượng. Mặt khác, do rét đậm và rét hại kéo dài đã làm cho cá nuôi lồng bè, cá nuôi nước ngọt, nghêu ngao bị chết nhiều làm giảm sản lượng nuôi trồng và ảnh hưởng gây thiệt hại về kinh tế đối với các hộ nuôi trồng thủy sản. 

          Trong quý I năm 2016 không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy hải sản.

          6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

          - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 03/2016 ước đạt 2.626,41 tỷ đồng giảm 6,28% so với tháng trước, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Kinh tế  nhà nước ước đạt 165,3 tỷ đồng, tăng 4,53% so với tháng trước và giảm 23,04% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tập thể ước đạt 1,9 tỷ đồng, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 7,98 lần so với cùng kỳ năm trước; kinh tế cá thể ước đạt 1.636,92 tỷ đồng, giảm 8,18% so với tháng trước và tăng 9,88% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân ước đạt 822,29 tỷ đồng, giảm 4,35% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước.

          Phân theo nhóm hàng, chỉ có 02 mặt hàng có doanh thu tăng so với tháng trước, đó là:

+ Hàng gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 129,7 tỷ đồng, tăng 6,53% so tháng trước. Ra năm các công trình khởi công xây dựng nên nhu cầu về các loại vật liệu xây dựng tăng, giá các loại vật liệu xây dựng đang ở mức khá thấp và một số loại vật liệu xây dựng đang có xu  hướng giảm giá như xi măng... đó là một trong những yếu tố kích cầu xây dựng và sửa chữa nhà cửa trong tháng.

+ Xăng, dầu các loại doanh thu ước đạt 278,25 tỷ đồng, tăng 6,87% so tháng trước. Nguyên nhân do nhu cầu chuyên chở hàng hóa tăng nên nhu cầu về xăng, dầu diezen tăng.

Còn phần lớn các mặt hàng đều có xu hướng giảm so với tháng trước: Giảm mạnh nhất là ô tô các loại giảm 20,78%; tiếp đến là nhóm hàng vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 14,27% và nhóm hàng hóa khác giảm 10,53%. Giảm ít nhất là nhóm hàng sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác giảm 1,78%; nhóm hàng nhiên liệu khác giảm 2,53% và nhóm hàng đá quý, kim loại quý, sản phẩm giảm 4,86%.

Tính chung 3 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 8.175,68 tỷ đồng, tăng 6,52% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhà nước ước đạt 533,84 tỷ đồng, giảm 20,58%; tập thể ước đạt 5,54 tỷ đồng, tăng 5,42 lần; cá thể ước đạt 5.082,61 tỷ đồng, tăng 11,25%; tư nhân ước đạt 2.553,69 tỷ đồng, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, các thành phần kinh tế đều tăng so với cùng kỳ năm 2015, chỉ có Kinh tế Nhà nước giảm mạnh do khu vực này chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ xăng dầu, ảnh hưởng thị trường giá xăng, dầu, gas nhiên liệu trong quý I/2016 liên tục giảm vào các ngày 04/01/2016; 19/01/2016; 03/02/2016 và 18/02/2016, đã tác động đến doanh thu của khu vực này. Khu vực Kinh tế tập thể tăng mạnh do một số Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực bán buôn hải sản nhưng ngày càng chú trọng và thúc đầy cả sang hoạt động bán lẻ nên doanh thu ở khu vực này tăng mạnh. Còn kinh tế cá thể có mức tăng trưởng mạnh nhất do trong quý trùng với dịp Tết Bính Thân nên các cơ sở đã tận dụng lợi thế của các cơ sở kinh doanh cá thể là các cơ sở dễ dàng thích ứng nhanh với sự thay đổi của nhu cầu thị trường.

          - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 03/2016 ước đạt 391,91 tỷ đồng, giảm 5,82% so với tháng trước và tăng 13,74% so cùng kỳ năm trước, trong đó: kinh tế nhà nước đạt 2,1 tỷ đồng, giảm 4,04%; kinh tế tập thể ước đạt 0,09 tỷ đồng, giảm 9%; kinh tế cá thể ước đạt 352,03 tỷ đồng, giảm 4,67%; kinh tế tư nhân ước đạt 36,62 tỷ đồng, giảm 16,41% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,07 tỷ đồng, tăng 36,06% so với tháng trước.

          Tính chung 3 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.223,97 tỷ đồng, tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 89,47 tỷ đồng, giảm 18,26%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.131,64 tỷ đồng, tăng 8,07%; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,87 tỷ đồng, tăng 64,49% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành quý I/2016 vẫn tăng, nhưng với mức tăng nhẹ. Chủ yếu tăng ở hoạt động dịch vụ ăn uống, mặc dầu trùng dịp Tết Nguyên đán nhưng lượt người đi lại tăng, cũng là thời điểm cuối năm tổng kết, gặp mặt nên nhu cầu tổ chức ăn uống tăng. Hoạt động du lịch lữ hành đạt mức tăng cao, do thị trường du lịch những tháng đầu năm khá sôi động so với năm trước. Để phù hợp với nhu cầu du xuân đầu năm các Công ty du lịch đã thiết kế các tour du lịch ngắn ngày trong nước với mức giá phù hợp. Ngoài ra để kích cầu bằng việc tìm kiếm sự ủng hộ của các hãng vận chuyển để được hưởng giá vé ưu đãi, chủ động liên kết với các đơn vị lữ hành khác để giúp khách hàng cảm nhận được việc đi du lịch theo tuor với chi phí phù hợp, đây cũng là yếu tố làm tăng doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành.

- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ quý I/2016 ước đạt 371,8 tỷ đồng, tăng 18,88% so cùng kỳ năm 2015; trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 14,8 tỷ đồng, tăng 22,73%; Tập thể ước đạt 0,7 tỷ đồng, tăng 91,41%; Cá thể ước đạt 263,5 tỷ đồng, tăng 15,77%; Tư nhân ước đạt 80,7 tỷ đồng, tăng 17,69%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 12 tỷ đồng, tăng 195,62% so với cùng kỳ năm trước. Từ đó cho thấy, các thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đều có mức tăng khá. Khối kinh tế Nhà nước tăng do Công ty TNHH MTV Quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh, hoạt động trong lĩnh vực phục vụ cộng đồng từng bước phát huy tính năng phục vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu; kinh tế Tập thể từng bước đạt mức tăng trưởng khá, bên cạnh Hợp tác xã kinh doanh hoạt động dịch vụ hỗ trợ đã từng bước đầu tư trang thiết bị, máy móc nhằm đem lại lòng tin cho người sử dụng dịch vụ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực có mức tăng trưởng khá nhất, luôn tận dụng tốt tiềm năng và lợi thế của khối kinh tế này là trình độ chuyên môn cao, với các phương pháp kỹ thuật tiên tiến nên dễ dàng trong việc thu hút khách hàng. Đặc biệt các doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu đặt tại Khu kinh tế Vũng Áng, Thị xã Kỳ Anh  đang được tập trung đầu tư, phát triển nhanh với nhiều dự án có quy mô lớn mang tầm quốc gia và quốc tế; từng bước khẳng định vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển của tỉnh.

          6.2. Hoạt động xuất nhập khẩu

          - Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2016 ước đạt 7.798,5 ngàn USD, giảm 3,1% so với tháng trước và giảm 33,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 527 ngàn USD, giảm 39,48% (giảm 343,8 ngàn USD) so với tháng trước; kinh tế tư nhân ước đạt 3.872,5 ngàn USD, giảm 13,2% (giảm 588,8 ngàn USD) so với tháng trước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3.399 ngàn USD, tăng 25,14% (tăng 682,8 ngàn USD) so với tháng trước. Nguyên nhân giảm là đến nay nhiều doanh nghiệp vẫn chưa ký được hợp đồng xuất khẩu hàng hóa.

Kim ngạch xuất khẩu quý I/2016 ước đạt 24.959,6 ngàn USD, giảm 6,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 2.421,7 nghìn USD, tăng 8,3%; Tư nhân ước đạt 11.365,2 nghìn USD, giảm 17,77%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11.172,8 nghìn USD, tăng 4,01% so với cùng kỳ. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2016 giảm so với cùng kỳ năm 2015, do giảm 01 đơn vị hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản đông lạnh, dẫn tới giá trị xuất khẩu mặt hàng này giảm mạnh (giảm 63,96%). Ngoài ra, do thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến việc chế biến, vận chuyển sắn lát khô và tinh bột sắn làm giá trị mặt hàng này giảm 73,57%. Bên cạnh đó, những tháng đầu năm 2016, Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa đã nhập khẩu về sản lượng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất các sản phẩm thép, than cốc, thép cuộn cán nóng, nhưng các sản phẩm này hiện nay chưa được xuất khẩu. Do đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá chưa có được sự tăng trưởng như dự kiến. Trong khi đó, khối kinh tế Nhà nước và Tư nhân đạt mức thấp do giá cả, thị trường của các mặt hàng gỗ xẻ, mủ cao su, quặng khoáng sản thô gặp nhiều khó khăn bất lợi, dẫn tới kim ngạch xuất khẩu quý I/2016 giảm.

          - Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2016 ước đạt 66.738,4 ngàn USD, giảm 17,71% so với tháng trước và giảm 66,09% so với cùng kỳ năm trước. Quý I/2016 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 241.171,8 ngàn USD, giảm 69,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 3.768,7 nghìn USD, tăng 231,93%; kinh tế tư nhân ước đạt 72.265 nghìn USD, tăng 132,74%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 165.138 nghìn USD, giảm 78,41% so với cùng kỳ. Như vậy, giá trị hàng hoá nhập khẩu quý I/2016 giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2015, do lượng hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị với tổng trị giá là 155.743,9 triệu USD (chiếm tỷ trọng 64,58% tổng kim ngạch nhập khẩu), giảm mạnh (giảm 79,65%).

Kim ngạch XNK hàng hoá quý I năm 2015, 2016

Chỉ tiêu

Năm 2015 (1000 USD)

Năm 2016 (1000 USD)

Tỷ lệ (%)  

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá

26.800,1

24.959,6

93,13

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá

797.543,4

241.171,8

30,24

Cán cân thương mại hàng hoá (XK-NK)

-770.743,3

-216.212,2

28,05

 

          So sánh giữa XNK hàng hóa cho ta thấy, cán cân thương mại 03 tháng đầu năm 2016 so cùng kỳ năm trước đã giảm bớt được mức nhập siêu. Tuy nhiên, mức giảm này không phải do kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng mà do tốc độ giảm hàng hoá nhập khẩu cao hơn hàng hoá xuất khẩu. Với thực tế hoạt động xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn Hà Tĩnh, dự kiến các sản phẩm công nghiệp nặng bao gồm thép các loại, than cốc và sản phẩm phụ sẽ có xuất khẩu. Khi đó, cán cân thương mại tỉnh Hà Tĩnh có khả năng thoát được tình trạng nhập siêu, chuyển hướng sang xuất siêu, góp phần giảm áp lực tỷ giá ngoại tệ trên phạm vi toàn quốc nói chung.

6.3. Hoạt động vận tải

Trong quý I/2016, các đơn vị kinh doanh vận tải, kho bãi tiếp tục được hưởng lợi với thị trường giá xăng dầu liên tục điều chỉnh giảm, chi phí đầu vào giảm. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh giá xăng A92 còn 14.020 đồng/lít; dầu diesel 9.770 đồng/lít. Mặc dầu, trong tháng sau kỳ nghỉ lễ dài ngày Tết Nguyên đán nhưng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trở lại sản xuất, kinh doanh bình thường, số ngày hoạt động bình quân chung tăng. Nhu cầu vận tải hàng hoá và các dịch vụ bến bãi, bốc xếp có xu hướng tăng lên.

         Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3 năm 2016 ước đạt 2.351,91 ngàn tấn, tăng 4,17% với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 55,69 triệu tấn.km, tăng 4,99% so với tháng trước. Tính chung khối lượng hàng hóa vận chuyển 3 tháng đầu năm 2016 ước đạt 7.109,67 ngàn tấn, tăng 5,73% với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 168,43 triệu tấn.km, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.  Sau thời gian nghỉ Tết, việc thi công các công trình xây dựng, dự án trên địa bàn tỉnh, cũng như xây dựng nhà ở trong dân cư đã trở lại bình thường và chủ yếu tập trung khởi công vào thời gian này; ngoài ra, các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng tăng cường độ sản xuất, nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng, nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất tăng.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3 năm 2016 ước đạt 1.801,28 ngàn hành khách, giảm 3,95% với khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 301,82 triệu HK.km, giảm 5,78% so với tháng trước. Tính chung khối lượng hành khách vận chuyển 3 tháng đầu năm 2016 ước đạt 5.444,72 ngàn hành khách, tăng 11,1% với khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 928,87 triệu HK.km, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước. Do tác động của yếu tố giá xăng dầu liên tục giảm sâu, cùng với đó là sự quản lý, điều tiết của các cơ quan quản lý. Tính đến thời điểm này, giá vé vận chuyển hành khách các tuyến nội tỉnh và liên tỉnh không tăng, thậm chí giá bình quân dịch vụ taxi còn giảm nên lượng khách tham gia vận tải công cộng tăng, vì vậy vận tải hành khách quý I/2016 tăng so với cùng kỳ năm 2015.

         Tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 3 tháng đầu năm 2016 ước đạt 1.083,52 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 522,52 tỷ đồng (chiếm 48,22% tổng số), tăng 10,11% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 391,65 tỷ đồng (chiếm 36,15% tổng số), tăng 14,59% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 169,35 tỷ đồng (chiếm 15,63% tổng số), tăng 8,76% so với cùng kỳ năm trước.

          Nhìn chung, hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh so với cùng kỳ năm trước vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá. Việc có thêm ba tuyến xe bus mới so với cùng kỳ (Hương Sơn - Vinh, Hương Sơn - Vũ Quang - Hà Tĩnh và tuyến Hà Tĩnh - Hồng Lĩnh - Hương Sơn) tác động đến hiệu quả kinh doanh vận tải hành khách tăng mạnh. Công tác kiểm tra, kiểm soát tải trọng hoạt động vận tải hàng hoá được các cơ quan quản lý nghiêm túc thực hiện một cách triệt để. Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị kinh doanh, đảm bảo phát triển bền vững. Cùng với việc cảng nước sâu Sơn Dương chính thức được đưa vào khai thác đã tạo ra bước đột phá mới trong hoạt động kho bãi. Cảng có mực nước lớn, có thể đón được nhiều tàu, thuyền có tải trọng siêu trường, siêu trọng giúp tăng thu từ các dịch vụ bến bãi, hàng hải. Tương lai hệ thống các cảng biển tại khu vực Vũng Áng sẽ là tiền đề để đưa Hà Tĩnh trở thành một địa phương có các hoạt động vận tải kho bãi lớn của vùng và cả nước.

          6.4. Chỉ số giá tiêu dùng

a. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2016

Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2016 tăng 0,39% so với tháng 02/2016 (khu vực thành thị tăng 0,41% và khu vực nông thôn tăng 0,38%), tăng 0,81% so với tháng 12/2015 và tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, đây là tháng thứ 3 liên tiếp có chỉ số giá tăng so với tháng trước nhưng với mức tăng không cao (chỉ số giá tháng 01/2016 tăng 0,04%, tháng 02/2016 tăng 0,41%, tháng 3/2016 tăng 0,39%).

Nguyên nhân chính tác động đến CPI  tháng 3 năm 2016 là:

- Giá các dịch vụ y tế tăng mạnh (tăng 21,52%) sau khi thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính. Tất cả các nhóm dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng.

- Mặc dù giá vật liệu xây dựng xi măng trong tháng đang có xu hướng giảm nhưng giá các loại sắt thép lại điều chỉnh tăng. Mặt khác, trong tháng các mặt hàng điện tử, thiết bị đồ dùng gia đình tăng giá cũng phần nào tác động làm tăng CPI.

- Nhu cầu sử dụng điện nước trong tháng tăng nên giá điện nước sinh hoạt bình quân tăng (điện sinh hoạt tăng 1,29%; nước sinh hoạt tăng 0,98%).

- Bên cạnh những yếu tố làm tăng giá nêu trên cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế CPI trong tháng 3 năm 2016, đó là:

 + Nhu cầu mua sắm thời gian sau Tết giảm, giá các mặt hàng đồng loạt giảm mạnh so với tháng trước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm (giảm 1,15%).

+ Giá xăng dầu giảm mạnh ngày 18/02/2016. Đây là lần giảm thứ 4 liên tiếp kể từ đầu năm. Theo đó giá bình quân xăng A95 và A92 giảm 1.372 đồng/lít.

 + Giá các dịch vụ giao thông công cộng như vé tàu xe giảm mạnh sau dịp Tết Nguyên đán (giảm 4,07%) đã phần nào tác động làm giảm chỉ số CPI.

                                     CPI tháng 3 hàng năm giai đoạn năm 2010 – 2016

                                                                                                                                                                            Đơn vị tính: %

 

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

CPI tháng 3 so với tháng 2

0,6

2,31

0,13

-0,28

-0,59

-0,49

0,39

CPI tháng 3 so với tháng 12 năm trước

3,94

7,17

3,68

3,03

0,95

-0,26

0,81

 

- Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tiếp tục ổn định so với tháng trước, đó là: Nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục (nhóm bưu chính viễn thông đã có chỉ số giá ổn định trong 3 tháng đầu năm 2016).

- Có 4/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước, đó là:

          + Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% so với tháng trước, tăng 1,78% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Các mặt hàng lương thực giảm 0,96% so với tháng trước, tăng 0,27% so với tháng 12 năm 2015 và 1,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng thóc, gạo sau dịp Tết Nguyên đán của người dân giảm nên giá các loại thóc, gạo giảm hơn so với tháng trước. Thị trường khu vực thành thị giá gạo tẻ thường mức 10.000 -13.000 đồng/kg (giảm 1,58%), gạo tẻ ngon 16.000-18.000 đồng/kg (giảm 0,89%), gạo nếp Thái Lan 29.000-30.000 đồng/kg (giảm 0,57 %). Khu vực nông thôn giá gạo tẻ thường dao động 10.000-12.000 đồng/kg, gạo tẻ ngon từ 15.000-17.000 đồng/kg, gạo nếp Thái Lan 28.000-30.000 đồng/kg.

          Các mặt hàng thực phẩm giảm 0,71% so với tháng trước, tăng 3,37% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. Giá thực phẩm giảm tập trung ở nhóm thịt gia súc tươi sống (giảm 0,71%), thịt gia cầm tươi sống giảm 1,81%, thủy sản tươi sống giảm 0,30%...Do nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng này sau Tết giảm mạnh. Thị trường khu vực Thành phố Hà Tĩnh giá thịt lợn mông sấn 80.000-85.000 đồng/kg (giảm 5.000đ/kg), thịt lợn nạc thăn giá 95.000- 100.000 đồng/kg (giảm 5.000-10.000 đồng/kg), sườn thịt loại ngon 95.000-100.000 đồng/kg, thịt lợn ba chỉ dao động 70.000-75.000 đồng/kg (giảm 5.000 đồng/kg). Khu vực nông thôn huyện Kỳ Anh, Can Lộc...Giá thịt lợn mông sấn 80.000-85.000 đồng/kg, thịt ba chỉ 70.000 đồng/kg, thịt nạc thăn 95.000-100.000 đồng/kg .

Bên cạnh đó, trong tháng 02 ảnh hưởng thời tiết rét đậm và xuất hiện sương muối nên các loại rau xanh trên địa bàn bị hư hỏng, không phát triển được dẫn đến khan hiếm nguồn hàng, giá các loại rau xanh tăng đột biến. Sang tháng 3 thời tiết thuận lợi cho các loại rau xanh ở các địa phương phát triển nên nguồn rau dồi dào hơn giá các loại rau cũng có xu hướng giảm: Đậu quả tươi từ 25.000 đồng/kg xuống còn 17.000-18.000 đồng/kg, cà chua từ 25.000-30.000 đồng/kg xuống còn 20.000 đồng/kg, rau dạng củ quả giảm từ 3.000-5.000 đồng/kg…Những yếu tố này đã làm cho chỉ số giá chung của nhóm thực phẩm giảm so với tháng trước.

Ăn uống ngoài gia đình giảm 1,66% so tháng trước, tăng 1,03% so với tháng 12 năm 2015 và giảm 0,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó giảm chủ yếu ở nhóm ăn quán bình dân giảm 1,92%. Nguyên nhân giảm do giá lương thực, thực phẩm trong tháng giảm nên chi phí đầu vào giảm do đó giá bán giảm.

+ Nhóm đồ uống và thuốc là giảm 1,74% so với tháng trước, tăng 2,57% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu ở mặt hàng bia, rượu các loại. Do nhu cầu tiêu dùng giảm đối với các loại mặt hàng này dẫn tới giá giảm theo.

+ Nhóm giao thông giảm 3,24% so với tháng trước, giảm 8,81% so với tháng 12 năm 2015 và giảm 9,62% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm giao thông giảm chủ yếu ở mặt hàng xăng dầu (giảm 7,2%). Ngày 18/02/2016 Liên Bộ Công Thương - Tài chính gửi công văn tới các doanh nghiệp, đại lý xăng dầu điều chỉnh giảm giá bán lẻ xăng. Theo đó, xăng A95 giá bình quân 14.831 đồng/lít, giảm 8,48% (giá xăng A95 trước ngày 18/02/2016 là 15.710 đồng/lít, từ ngày 18/02/2016 có giá là 14.730 đồng/lít); xăng A92 giá bình quân 14.121 đồng/lít, giảm 8,84% (giá xăng A92 trước ngày 18/02/2016 là 15.000 đồng/lít, từ ngày 18/02/2016 có giá là 14.020 đồng/lít). Mặc dù, các mặt hàng dầu ngày 18/02 không được điều chỉnh giảm, tuy nhiên do ảnh hưởng giảm ngày 03/02/2016 nên giá dầu bình quân trong tháng vẫn giảm 4,17% so với tháng trước.

+ Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,33% so với tháng trước, tăng 0,21% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 15,81% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng cây cảnh, vật cảnh (giảm 9,80%), trong đó: Mặt hàng hoa tươi giảm mạnh nhất (giảm 15,31%), mặc dầu trong tháng có ngày lễ 8/3 nhưng thị trường giá các loại hoa tươi không có biến động tăng giá. Nguyên nhân trong tháng 02 trùng Tết Nguyên đán và nhiều ngày lễ hội như ngày lễ Valentin với số lượng bán ra các loại hoa tươi tăng mạnh, nhất là hoa hồng, nhưng sang tháng 03/2016, nhu cầu sử dụng mặt hàng này ít hơn dẫn đến thị trường giá bán giảm hơn tháng trước.

          - Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 5 nhóm tăng giá so với tháng trước, cụ thể:

+ Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,09% so với tháng trước, giảm 1,17% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước. Tăng chủ yếu ở nhóm may mặc khác và mũ nón (tăng 0,56%) và nhóm may mặc chỉ tăng nhẹ 0,07%.

          + Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,17% so tháng trước, tăng 0,43% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do nhu cầu sử dụng điện nước sinh hoạt trong tháng tăng nên giá điện nước bình quân trong tháng tăng hơn so với tháng trước (điện sinh hoạt tăng 1,29%; nước sinh hoạt tăng 0,98%). Bên cạnh đó, trong tháng giá các loại sắt thép đang có xu hướng tăng lên. Nguyên nhân do ảnh hưởng giá thép cuốn, dài nhập từ Trung Quốc tăng thêm hơn 100 USD/tấn, từ 250 USD cuối năm 2015 lên 370-380 USD/tấn vào đầu tháng 03/2016. Ngoài ra, do ảnh hưởng giá phôi thép thế giới tăng cao trong khi nhu cầu xây dựng của người dân tăng, đến cuối tháng giá sắt cây của thép Việt Nhật, thép miền nam và thép pomina đã có sự tăng nhẹ từ 2-3.000 đồng/cây. Tại địa bàn Hà Tĩnh giá thép tròn trơn phi 6 Thái Nguyên mua rời 11.000 đồng/kg, tăng 900đ/kg (tăng 2,89%); thép cây đốt vằn phi 10 giá 11.666 đồng/kg, tăng 555đ/kg (tăng 1,63%); thép cây đốt vằn phi 9 giá 11.454 đồng/kg, tăng 909 đồng/kg (tăng 2,76%). Bên cạnh các mặt hàng tăng giá thì cũng có những mặt hàng làm giảm giá so với tháng trước như: Giá gas giảm ngày 01/02/2016 bình quân trong tháng giảm 2,53% tương ứng giảm 15.000 đồng/bình hãng Petrolimex bình12kg; dầu hỏa ngày 03/02/2016 được điều chỉnh giảm đã làm cho giá dầu hỏa bình quân trong tháng giảm 3,95%. Ngoài ra, chịu tác động của nhóm vật liệu xây dựng xi măng Bỉm sơn PC40 trong tháng giảm 1.000 đồng/50kg (giảm 1,01%).

+ Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,47% so với tháng trước, tăng 0,92% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng giá nhập khẩu hàng hóa đối với các mặt hàng điện tử, điện lạnh như giá tủ lạnh, lò vi sóng, bếp từ…tăng lên nên đã tác động làm chỉ số giá chung nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tiếp tục tăng so tháng 02/2016.

+ Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 21,52% so với tháng trước, tăng 21,52% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 22,22% so với cùng kỳ năm trước. Đây là nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất trong 5 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng trong tháng 3/2016. Nguyên nhân do thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính về việc thống nhất điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Theo đó, các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc sẽ áp dụng một mức giá chung cho các dịch vụ kỹ thuật còn giá khám bệnh, ngày giường vẫn theo hạng bệnh viện. Thông tư được chia làm 2 lộ trình thực hiện: Từ 01/3/2016 thực hiện mức giá gồm chi phí trực tiếp và phụ cấp đặc thù; từ 01/7/2016 mức giá gồm chi phí trực tiếp, phụ cấp đặc thù và cả tiền lương. Do đó, nhóm dịch vụ khám sức khỏe trong tháng tăng 28,3% so với tháng trước, trong đó khám chữa bệnh ngoại trú tăng 36,13% và nhóm khám chữa bệnh nội trú tăng 21,33%.

+ Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 0,91% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng ở mặt hàng đồ trang sức (tăng 3,44%). Nguyên nhân do ảnh hưởng chi phí đầu vào giá vàng  9999, đồ trang sức bằng nhẫn vàng tây 75k tăng, tác động đến chỉ số giá chung của nhóm này tăng.

- Chỉ số giá vàng tăng 3,23% so tháng trước, tăng 9,07%  so  tháng 12 năm 2015 và tăng 2,76% so cùng kỳ năm trước. Giá vàng 9999 trên địa bàn Hà Tĩnh (kỳ 1 ngày 27/02/2016) mức giá bán ra là  3.340 ngàn đồng/chỉ, (kỳ 2 ngày 08/3/2016) mức giá bán ra là 3.410 ngàn đồng/chỉ và ngày 16/3/2016 giá vàng giảm ở mức 3.340 ngàn đồng/chỉ. 

- Chỉ số giá đô la Mỹ  giảm 0,42% so tháng trước, giảm 1,34% so với tháng 12 năm 2015 và tăng 4,62% so cùng kỳ năm trước. Giá USD tự do tại thị trường Hà Tĩnh ngày 16/3/2016 mức giá bán ra 2.235 ngàn đồng/100USD (giảm 7 ngàn đồng/100USD) so với tháng trước.

b. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2016

 Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2016 tăng 0,53% so với quý  IV năm 2015 và tăng 2,23% so với cùng kỳ năm 2015. Tác động đến CPI tăng bởi các yếu tố như: Ảnh hưởng nhu cầu mua sắm phục vụ Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016 tăng cao nên giá một số mặt hàng tăng đặc biệt là mặt hàng lương thực, thực phẩm (tăng 2,54%). Giá các dịch vụ y tế tăng mạnh do thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính về việc thống nhất điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Bên cạnh những yếu tố làm tăng giá nêu trên cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế CPI trong quý như: Giá xăng dầu từ đầu năm 2016 đã có 4 lần giảm liên tiếp vào các ngày 04/01/2016, 19/01/2016, 03/02/2016 và ngày 18/02/2016. Ảnh hưởng giá gas thế giới giảm, giá gas trong nước được điều chỉnh giảm 2 lần liên tiếp từ đầu năm 2016…Những điều này đã tác động làm kiềm chế CPI  những tháng đầu năm 2016 tăng.

 Nhìn chung, thị trường hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng ngày càng được đảm bảo, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được người tiêu dùng quan tâm hơn. Hàng Việt Nam cũng được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn nhiều hơn, nhất là đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm, rau, củ, quả…Cùng với đó, công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được tăng cường. Tuy nhiên, mức tiêu thụ hàng hóa trong quý I/2016 có xu hướng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước, nhu cầu mua sắm của người dân cũng tiết kiệm hơn nên giá cả các mặt hàng ổn định, không có sự tăng giảm đột biến về giá cả hàng hóa.

Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2016 xu hướng tiếp tục tăng. Nguyên nhân tăng ở một số nhóm mặt hàng thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc và dịch vụ du lịch, do trong tháng có hai kỳ nghỉ lễ, đó là Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 và dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5 nên nhu cầu sử dụng các mặt hàng ở nhóm này tăng hơn.

          7. Các vấn đề xã hội

          7.1. Tình hình đời sống dân cư

          Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh quý I năm 2016 có cải thiện hơn so với cùng kỳ năm trước, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản  chuyển biến tích cực và phát triển, tình hình an ninh, chính trị ổn định. Tình hình lưu chuyên hàng hóa, bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng khá; các hoạt động văn hóa, du lịch những tháng đầu năm diễn ra sôi động. Những tháng đầu năm là thời điểm trùng với Tết Nguyên đán, có sự biến động lớn đến cung cầu hàng hóa, nhưng nhờ sự chỉ đạo của UBND tỉnh về bình ổn giá, bán đúng giá niêm yết, giá cam kết; đồng thời khuyến khích, vận động các thành phần kinh tế khác tham gia dự trữ đủ các mặt hàng thiết yếu phục vụ người dân trên địa bàn trong dịp Tết, những biện pháp này đã tác động tích cực, góp phần đảm bảo cung ứng đủ hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường trước, trong và sau Tết. Bên cạnh đó, lãnh đạo các địa phương trong tỉnh thăm hỏi, tặng quà cho gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách; các đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài nước vẫn tổ chức sản xuất trong dịp Tết Nguyên đán để đảm bảo tiến độ các công trình trọng điểm quốc gia và của tỉnh… nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn được đảm bảo.

          Đầu năm 2016, với nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi về tiền lương như: Nghị định số 122/2015/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng; Nghị quyết 99/2015/QH13 về Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016 quy định điều chỉnh tiền lương đối với người có mức lương hưu, trợ cp mất sức lao động dưới 2.000.000 đồng/tháng và trợ cấp đối với giáo viên mm non có thời gian công tác trước năm 1995 để lương hưu của các đối tượng này đạt mức lương cơ sở; Quyết định 57/2015/QĐ-TTg về chính sách đối với hoạt động tình nguyện của thanh niên; Nghị định 113/2015/NĐ-CP quy định phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, ... nên đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương được cải thiện hơn.

          Đối với khu vực nông thôn, nhờ sự chỉ đạo của tỉnh thực hiện một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích sản xuất có tác động đáng kể trong việc sản xuất kinh doanh của người dân, cụ thể: tập trung thực hiện tốt các mục tiêu tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu các ngành kinh tế cũng như lĩnh vực sản xuất nội ngành và tái cơ cấu các ngành kinh tế ven biển, vùng trung du, miền núi và vùng đồng bằng; thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị tăng và phát triển bền vững, ưu tiên về hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh gắn với xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm sản xuất trong tỉnh, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường mới; triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, tạo thuận lợi cho người dân trong sản xuất kinh doanh, nên đời sống của người dân có phần cải thiện hơn và không xảy ra thiếu đói. Dự kiến trong thời gian tới, tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.

          7.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội

  - Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực: giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề; cải thiện nhà ở cho người có công, gia đình nghèo...Tập trung ưu tiên cho các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển nhằm tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi từ các chương trình, dự án một cách hiệu quả nhất. Đồng thời nghiên cứu và triển khai các chính sách, chương trình giảm nghèo mới như: Hỗ trợ vay vốn xây dựng nhà phòng, tránh bão lụt; hỗ trợ tiền điện hộ nghèo, hộ chính sách xã hội; triển khai cho hộ mới thoát nghèo, hộ nghèo vay vốn làm nhà ở; triển khai Đề án phát triển đồng bào dân tộc Chứt có hiệu quả nhằm từng bước nâng cao cuộc sống cho bà con dân tộc ít người.

          Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo tiếp tục đi vào cuộc sống. Người nghèo đã được chỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập. Tốc độ giảm nghèo nhanh, cơ bản vượt các chỉ tiêu đề ra. Kết quả công tác điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 của các huyện, thị xã, thành phố, toàn tỉnh có 41.248 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 11,20%), 30.662 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 8,33%); tổng tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo toàn tỉnh là 19,53%. Tốc độ giảm nghèo của tỉnh nhanh hơn tốc độ giảm nghèo chung của cả nước, tuy nhiên kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Về những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị cần phải vào cuộc, cầm tay chỉ việc cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia vào chuỗi sản xuất, tránh ỷ lại; thông qua các tổ chức hội để tạo động lực mới giúp đỡ các hộ nghèo, cận nghèo vươn lên.

- Công tác an sinh xã hội:  Các chế độ, chính sách với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội đã được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định. Đến ngày 05/02/2016 (tức ngày 27/12 Âm lịch), 13/13 huyện, thành phố, thị xã đã hoàn thành việc chi trả trợ cấp tháng 02/2016 cho gần 49.000 người có công, với kinh phí gần 130 tỷ đồng; chi trả trợ cấp thường xuyên cho 72.280 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí hơn 20 tỷ đồng. Cấp 48.614 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 115.553 thẻ bảo hiểm cho hộ cạn nghèo, 16.478 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 36.067 thẻ bảo hiểm cho người có công. Trao tặng 02 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 04 triệu đồng; số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới trong kỳ báo cáo là 10 nhà với tổng trị giá 161 triệu đồng.

Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo; mọi người, mọi nhà đón Tết cổ truyền của dân tộc trong yên bình, vui vẻ, đầm ấm. Đã tổ chức thăm hỏi, trao tặng 176.174 suất quà với tổng kinh phí trên 34,662 tỷ đồng (giảm 42.933 suất và giảm 38,574 tỷ đồng so với Tết Ất Mùi 2015), trong đó: Quà người có công là 100.403 suất với tổng kinh phí là 18,268 tỷ đồng (quà Trung ương 56.404 suất, kinh phí 11,517 tỷ đồng; quà địa phương 43.999 suất, kinh phí 7,75 tỷ đồng); quà người nghèo 7.562 suất với tổng kinh phí 2,792 tỷ đồng; quà người cao tuổi 42.070 suất với tổng kinh phí 4,618 tỷ (trong đó tổ chức chúc thọ cho 19.750 người cao tuổi, kinh phí 3,701 tỷ đồng); quà đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.096 suất, kinh phí 1,377 tỷ đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng khác 20.043 suất, kinh phí 7,605 tỷ đồng. Như vậy, bên cạnh nguồn kinh phí từ Trung ương cấp là 11,517 tỷ đồng và nguồn kinh phí trích từ ngân sách địa phương trên 18,455 tỷ đồng còn lại là số tiền được huy động từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.

Lương, thưởng của công nhân, người lao động trong dịp Tết: Theo kết quả rà soát nhanh của các huyện, thành phố, thị xã và Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh, tính đến ngày 11/02/2016 các doanh nghiệp trả lương cho người lao động không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu vùng, không có doanh nghiệp nợ lương người lao động. Khảo sát nhanh về tình hình tiền lương, thưởng Tết tại gần 50 đơn vị, kết quả như sau:

+ Tình hình tiền lương: Khối doanh nghiệp có vốn nhà nước tiền lương bình quân của người lao động cao nhất là 16.000.000 đồng/người/tháng; tiền lương thấp nhất là 2.500.000 đồng/người/tháng; bình quân là 5.980.000 đồng/người/tháng. Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiền lương cao nhất 11.000.000 đồng/người/tháng; tiền lương thấp nhất 2.500.000 đồng/người/tháng; bình quân 5.700.000 đồng/người/tháng. Khối doanh nghiệp FDI tiền lương bình quân cao nhất 18.355.000 đồng/người/tháng; tiền lương thấp nhất 2.942.000 đồng/người/tháng; bình quân 7.252.000 đồng/người/tháng.

+ Tiền thưởng Tết Dương lịch cao nhất 13.000.000 đồng và thấp nhất 300.000 đồng. Tiền thưởng Tết Âm lịch cao nhất 30.700.000 đồng và thấp nhất 2.500.000 đồng.

7.3. Công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề

Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2016 trên địa bàn tỉnh thể hiện qua Kế hoạch số 17/KH-UBND ngày 19/01/2016, nhiệm vụ chính là đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với các sản phẩm chủ lực, tái cấu trúc ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; cùng với nhu cầu sử dụng lao động ở các khu kinh tế, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ…góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động; ưu tiên đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi cho người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo. Nhờ vậy, quý I năm 2016 toàn tỉnh đã đào tạo 3.430 lượt người, trong đó: cao đẳng nghề là 30 lượt người; trung cấp nghề là 640 lượt người; sơ cấp nghề  là 1.885 lượt người và dưới 3 tháng là 875 lượt người. Giải quyết việc làm cho 6.189 lượt người, trong đó lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 3.465 lượt người, xuất khẩu lao động 1.178 lượt người, lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.546 lượt người.

          7.4. Hoạt động giáo dục đào tạo

          a. Giáo dục phổ thông

  Trong học kỳ I năm học 2015-2016, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh được đẩy mạnh; toàn Ngành giáo dục thực hiện tốt Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với các phong trào, các cuộc vận động trong ngành, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo, phân đấu vì mục tiêu chung. Toàn ngành đã phấn đấu đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và là tỉnh đứng thứ 12 trong cả nước hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và phổ cập THCS tiếp tục được củng cố vững chắc; chất lượng giáo dục ở các cấp học tiếp tục được nâng cao, chất lượng mũi nhọn tiếp tục được giữ vững.

          - Giáo dục mầm non: Tổng số trường mầm non hiện nay là 268 trường; tổng số học sinh nhà trẻ có 14.949 cháu, tăng 1,89% (tăng 287 cháu) so với cùng kỳ năm trước; tổng số học sinh mẫu giáo có 65.811 cháu, tăng 8,88% (tăng 5.369 cháu) so với cùng kỳ năm trước; tổng số giáo viên mầm non là 4.878 người, tăng 8,18% (tăng 369 người) so với cùng kỳ năm trước, số giáo viên đạt chuẩn là 4.873 người (chiếm 99,9%).

          - Giáo dục tiểu học: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.352 người, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,67% (giảm 204 người). Số giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn 5.234 người (chiếm 97,8% so với tổng số); tổng số học sinh có 100.492 em, so với cùng kỳ năm trước tăng  3,06% (tăng 2.984 em). Học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học có 99.756 em.

          - Trung học cơ sở: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.136 người, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,18% (giảm 169 người). Số giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn 5.124 người (chiếm 99,77% so với tổng số); tổng số học sinh có 75.172 em, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,82% (giảm 625 em). Học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở có 75.055 em.

          - Trung học phổ thông: Tổng số giáo viên giảng dạy 2.973 người, so cùng kỳ năm trước giảm 3,63% (giảm 112 người). Số giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn 2.927 người (chiếm 98,45% so với tổng số); tổng số học sinh có 45.562 em, so cùng kỳ năm trước giảm 5,15% (giảm 2.474 em). Học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT có 45.297 em.

          Năm học này, Hà Tĩnh tiếp tục đạt thành tích xuất sắc trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia với 77/91 em đạt giải, đạt tỷ lệ 84,62% (có 01 giải nhất, 20 giải Nhì, 32 giải Ba và 24 giải Khuyến khích) tăng hơn so với năm trước 8 giải, nằm trong 04 tỉnh, thành phố có thành tích xuất sắc nhất cả nước.

          b. Giáo dục đào tạo

Năm học 2015-2016, các trường chuyên nghiệp thực hiện tốt các nội dung trọng tâm của năm học như: “Ba công khai”; công bố chuẩn đầu ra; rà soát chương trình, giáo trình; điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và đánh giá học sinh sinh viên. Tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học, phát triển đội ngũ, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tăng cường công tác tuyên truyền và tư vấn tuyển sinh, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Sở Giáo dục và Đào tạo đã thẩm định mở thêm 02 mã ngành cho Đại học Hà Tĩnh; kiểm tra cho phép trường Cao đẳng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du mở thêm 03 mã ngành đào tạo trung cấp chuyên nghiệp.

- Về giáo viên: Trường Đại học gồm có 223 người (trình độ trên đại học 160 người; đại học, cao đẳng 63 người); các trường Cao đẳng 123 người (trên đại học 63 người; đại học, cao đẳng 56 người; TCCN và trình độ khác 04 người).

- Về học sinh: Trường Đại học có 4.496 học sinh (hệ đại học 3.607 học sinh; hệ cao đẳng 600 học sinh và hệ TCCN 89 học sinh), số tuyển mới là 1.501 học sinh (hệ đại học 1.201 học sinh; hệ cao đẳng 255học sinh và hệ TCCN 49 học sinh); các trường Cao đẳng có 1.641 học sinh (hệ cao đẳng 598 học sinh và hệ TCCN 1.043 học sinh), số tuyển mới là 769 học sinh (hệ cao đẳng 121 học sinh và hệ TCCN 648 học sinh).

7.5. Hoạt động Y tế

          Quý I/2016, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.

          - Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ. Tuy nhiên, do diễn biến thời tiết phức tạp, rét đậm, rét hại, độ ẩm cao tạo điều kiện cho mầm bệnh phát sinh và phát triển như cúm A(H5N1), A(H1N1), sốt rét, lỵ trực trùng, đặc biệt là bệnh vi rút Zika và bệnh mô não cầu. Trước tình hình đó, ngành y tế đã chỉ đạo các địa phương tăng cường triển khai các biện pháp phòng chống  dịch thường xuyên và chủ động; giám sát tất cả các trường hợp dịch bệnh đầu tiên, điều tra lấy mẫu xác định nguyên nhân; giám sát tại các bệnh viện, phòng khám tư, trường học, công cộng, ... không để bỏ sót các trường hợp mắc bệnh, xử lý dịch một cách triệt để, không để lan rộng và lây sang người. Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ và Bộ Y tế, UBND tỉnh cũng đã có văn bản chỉ đạo các ban, ngành và địa phương phối hợp phòng, chống dịch beenh do vi rút Zika gây nên. Chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhân lực, trang thiết bị, phương tiện, hóa chất, giường bệnh ... để đáp ứng kịp thời yêu cầu khi có dịch xâm nhập. Trong quý, trên địa bàn Hà Tĩnh có 05 trường hợp sốt xuất huyết, 58 trường hợp sốt rét, 73 trường hợp mắc lỵ trực trùng và lỵ a míp, 05 trường hợp tay-chân-miệng và 131 trường hợp mắc bệnh do adeno. Điều đáng mừng là các dịch bệnh trên đã được ngăn chặn kịp thời không trường hợp nào bị tử vong .

          - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tiếp tục hưởng ứng tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS với chủ đề “Không kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS” nhằm đạt mục tiêu: thúc đẩy sự tham gia của cả hệ thống chính trị thực hiện “Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn 2030” và phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư”. Giảm kỳ thị, phân biệt đối xử, tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và đề cao trách nhiệm của người nhiễm HIV/AIDS với gia đình, cộng đồng; nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người dễ tổn thương; mở rộng độ bao phủ, nâng cao chất lượng các dịch vụ dự phòng, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị HIV/AIDS thân thiện đến mọi người dân. Quý I năm 2016, Hà Tĩnh có 18 trường hợp nhiễm HIV, tăng 03 trường hợp so với năm trước, do một số bệnh nhân ở nơi khác chuyển về; có 19 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và không có người chết vì AIDS.

          - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Để nâng cao công tác đảm bảo VSATTP, ngành Y tế Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn  kiến thức bảo đảm VSATTP đối với người trực tiếp chế biến thực phẩm trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các nhà hàng, dịch vụ ăn uống; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các bếp ăn tập thể, các cơ sở cung cấp thực phẩm, các dịch vụ ăn uống. Ngoài ra, Chi cục VSATTP tỉnh cũng đã thành lập đoàn kiểm tra các cơ sở dịch vụ ăn uống tại các khu lễ hội; đồng thời tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi thực hành tốt nhằm bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm, sức khỏe cho du khách thập phương về lễ hội. Quý I/2016, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể (tại huyện Cẩm Xuyên), 662 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ và 01 trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.

          7.6. Hoạt động văn hóa - thể thao

  - Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, chào mừng xuân Bính Thân được tổ chức chu đáo, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh. Tỉnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã. Đặc biệt, chào mừng năm mới 2016, vào tối 31/12/2015, trường Đại học Hà tĩnh đã tổ chức đêm dạ hội ca nhạc với hơn 15 tiết mục ca múa  nhạc sôi động, đặc sắc, mang hơi thở mùa Xuân do cán bộ, giáo viên cùng đông đảo các em sinh viên của trường thể hiện. Dạ hội là lời chào năm cũ, lời chúc mừng năm mới với quyết tâm và khí thế mới. Trong niềm hân hoan chào xuân, người người trao nhau những lời chúc mừng năm mới, chia sẻ với nhau mong ước, hy vọng và niềm tin vào một năm nhiều may mắn, thắng lợi.

Cũng thời gian này, Hà Tĩnh đã tổ chức Hội báo Xuân Bính Thân 2016 với chủ đề “Mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Bính Thân, mừng quê hương đổi mới”. Đây là một hoạt động nổi bật của các hội viên, phóng viên các cơ quan báo chí địa phương và Trung ương thường trú trên địa bàn Hà Tĩnh.

          Với thông điệp “Hãy đến sống và làm việc tại thị xã Kỳ Anh, chúng tôi luôn đồng hành và chia sẻ với các bạn”, chương trình giao lưu “Tết cho người xa quê năm 2016” được tổ chức nhằm chia sẻ, động viên kịp thời những người con xa quê do điều kiện công việc nên phải đón tết Nguyên đán Bính Thân 2016 tại thị xã Kỳ Anh. Chương trình giao lưu cũng là dịp để thị xã Kỳ Anh gặp mặt, chúc mừng, động viên và tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác với các doanh nhân, nhà đầu tư, chuyên gia, công nhân trong và nước ngoài đang làm việc, đầu tư, sinh sống ở lại đón Tết.

          Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức xây dựng các chương trình văn hóa, văn nghệ cho đội Thông tin lưu động xuống cơ sở tuyên truyền phục vụ nhân dân; Nhà hát nghệ thuật truyền thống dàn dựng chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhân dân trong đêm giao thừa đón chào năm mới.

Các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban quản lý khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban quản lý khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban quản lý khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập chuẩn bị các điều kiện tổ chức tốt cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới.

          Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND huyện Can Lộc tổ chức  khai hội Chùa Hương năm 2016 vào ngày 13/02/2016; tổ chức Hội thảo khoa học “Xuân Diệu - Thơ và Đời”, Lễ Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Xuân Diệu vào ngày 20/02/2016. Phối hợp vối UBND huyện Hương Sơn tổ chức đón Bằng công nhận Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia vào ngày 19/02/2016.

Tỉnh đã tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp tại 03 điểm (thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, Khu kinh tế Vũng Áng) đảm bảo an toàn tuyệt đối.

          - Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh như: Chùa Hương Tích (huyện Can Lộc), Đền Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu (huyện Kỳ Anh), Đền Chợ Củi (huyện Nghi Xuân), khu Di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, ... và các quán karaoke, quán Internet nhằm đảm bảo an ninh trật tự, văn hóa, văn minh; đồng thời, hạn chế việc đốt vàng mã, nạn hành khất, níu kéo du khách trong mùa lễ hội, tùy tiện tăng giá, phí trông coi phương tiện. Kết quả kiểm tra đã xử phạt 03 cơ sở karaoke và 02 cơ sở Internet, với tổng số tiền xử phạt là 10 triệu đồng.

          - Hoạt động thể thao: Nhân dịp Tết Bính Thân, Sở Văn hóa - Thể thao và Du Lịch đã chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố chuẩn bị tổ chức bóng chuyền, bóng đá, cờ tướng, đua thuyền mừng Đảng, mừng Xuân năm 2016. Thành phố Hà Tĩnh tổ chức khai mạc Giải Cờ thẻ mừng xuân Bính Thân 2016 (vào ngày 12/2/2016). Giải có sự tham gia của gần 20 kỳ thủ là hạt nhân thể thao phong trào các phường, xã trên địa bàn thành phố. 

          Sở giáo dục và đào tạo tổ chức khai mạc Hội khỏe Phù Đổng toàn tỉnh lần thứ XI, thu hút hơn 2.300 vận động viên đến từ 13 huyện, thị xã, thành phố và các trường THPT trong toàn tỉnh tham gia, tranh tài ở 10 bộ môn thể thao cơ bản với hơn 136 nội dung thi đấu dành cho các vận động viên từ bậc tiểu học đến THPT. Đây là ngày hội thể thao học đường nhằm tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích phong trào “Rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”, không ngừng tăng cường sức khỏe, học tập tốt, lao động tốt, rèn luyện tốt để ngày mai lập thân lập nghiệp và xây dựng kiến thiết nước nhà.

Đối với thể thao thành tích cao: Tại Giải vô địch Pencak Silat toàn quốc năm 2016, đoàn Hà Tĩnh tham gia 12 vận động viên. Kết quả, đoàn Hà Tĩnh đã xuất sắc giành 01 huy chương vàng ở hạng cân 55kg nữ và 01 huy chương bạc ở hạng cân 60kg nữ.

          7.7. Tình hình an toàn giao thông

Nhằm hạn chế tai nạn giao thông năm 2016, Ban An toàn giao thông (ATGT) tỉnh tổ chức ký kết tuyên truyền với các đơn vị trong tỉnh với nội dung, kế hoạch, chuyên đề cụ thể như: “Tăng cường kiểm soát tải trọng xe”, “Văn hóa giao thông”, “Hiểm họa rượu bia với ATGT”, “Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi ngồi trên xe mô tô, gắn máy, xe đạp điện khi tham gia giao thông”, “Tuân thủ quy định tốc độ khi lái xe”; “Hướng dẫn tham gia giao thông bằng xe máy điện, xe đạp điện” ... nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT, lồng ghép trong hoạt động chuyên môn của từng đơn vị, qua đó nâng cao vai trò gương mẫu của mỗi cán bộ, hội viên trong việc thực hiện pháp luật trật tự ATGT. Việc phối hợp tuyên truyền công tác bảo đảm trật tự ATGT với các cơ quan, ban, ngành cũng nhằm nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể đối với công tác bảo đảm trật tự ATGT, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về trật tự ATGT của cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân trên địa bàn.

Từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/3/2016, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 31 người chết, 34 người bị thương, ước tính thiệt hại về tài sản là 165 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ và giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, giảm 08 người chết và giảm 01 người bị thương. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi đang tham gia giao thông và đi sai phần đường.

7.8. Môi trường

          - Tình hình cháy, nổ: Quý I/2016, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 20 vụ cháy làm chết 01 người, ước tính thiệt hại về tài sản là 1.136 triệu đồng (trong dịp tết xảy ra 08 vụ). So với kỳ năm trước tăng 12 vụ. Trong đó: cháy nhà dân 09 vụ; ki ốt, cửa hàng kinh doanh 05 vụ; ô tô và xe máy 03 vụ; đường dây điện, dây cáp viễn thông 02 vụ và cháy rừng phòng hộ 01.

- Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Quý I/2016, đã kiểm tra phát hiện và xử lý 04 cơ sở giết mổ gia súc tại các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Hương Sơn về vi phạm môi trường, xử lý chất thải chưa đúng quy định, với số tiền 10,5 triệu đồng.
 

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:35.170.81.210

Thống kê

Lượt truy cập  44967
Đang trực tuyến   28