MyLabel

THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021

12/29/2021


Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng và việc tái đàn gặp khó khăn.

Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội…vv. Đồng thời, đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp

 Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. 

I.TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2021 của Hà Tĩnh ước tăng 5,02% so với năm 2020, xếp thứ 4 trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung[1]. GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 67,03 triệu đồng/người/năm (tăng 4,91 triệu đồng/người/năm so với năm 2020). Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra[2] tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết quả đạt được cũng đã khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tổ chức doanh nghiệp và người dân trong thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế năm 2021 thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78% đóng góp 0,53 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, đóng góp 4,16 điểm %; khu vực dịch vụ giảm 0,7%, làm giảm 0,24 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46%, đóng góp 0,57 điểm %.

Về cơ cấu kinh tế: Năm 2021 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,52%, giảm 0,79 điểm % so với năm 2020; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 43,95% tăng 3,47 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 31,76%, giảm 2,82 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,77% tăng 0,16 điểm %.

 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha; hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, cùng với đó là dịch viêm gia, nổi cục xuất hiện đã gây khó khăn cho tái đàn, tăng đàn; sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ; sản xuất thủy sản đang nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp.

 a) Nông nghiệp

 - Trồng cây hàng năm: Diện tích lúa năm 2021 sơ bộ đạt 104.923 ha, tăng 1.028 ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 55,33 tạ/ha, tăng 3,92 tạ/ha, sản lượng lúa ước tính đạt 580.512 tấn, tăng 46.446 tấn.

 Vụ đông xuân năm nay toàn tỉnh gieo cấy sơ bộ đạt 59.478 ha, tăng 151 ha so với năm 2020; năng suất 58,95 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha; sản lượng đạt 349.794 triệu tấn, tăng 24.427 tấn.

  Diện tích gieo trồng lúa hè thu toàn tỉnh sơ bộ đạt 44.955 ha, tăng 905 ha; năng suất đạt 51,12 tạ/ha, tăng 3,49 tạ/ha; sản lượng đạt 229.803 tấn, tăng 21.930 tấn.

  Diện tích gieo cấy lúa mùa toàn tỉnh đạt 490 ha, giảm 28 ha; năng suất đạt 18,67 tạ/ha, tăng 2,72 tạ/ha; sản lượng sơ bộ đạt 915 tấn, tăng 89 tấn.

 Kết quả sản xuất một số cây hằng năm khác: sản lượng ngô cả năm sơ bộ đạt 52.828 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.497 tấn) so với năm trước; sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ đạt 25.943 tấn, bằng 106,32% (tăng 1.542 tấn) so với năm trước; sản lượng lạc cả năm sơ bộ đạt 29.130 tấn, bằng 105,18% ( tăng 1.435 tấn) so với năm trước; sản lượng rau cả năm sơ bộ đạt 95.395 tấn, bằng 105,88% (tăng 5.302 tấn) so với năm trước.

 - Trồng cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.510 ha, bằng 100,2% (tăng 61 ha) so với năm 2020, trong đó diện tích cây ăn quả là 19.103 ha, bằng 103,7% (tăng 672 ha), chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, (diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.476 ha, (tăng 263 ha); diện tích cam cho sản phẩm 6.061 ha, (tăng 602 ha); diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 3.949 ha, (tăng 274 ha); diện tích bưởi cho sản phẩm 2.860 ha, (tăng 398 ha)).

 Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 152.067 tấn, bằng 112,2% (tăng 16.519 tấn) so với năm 2020, trong đó: sản lượng cam sơ bộ đạt 58.026 tấn, (tăng 10.361 tấn); sản lượng bưởi sơ bộ đạt 31.629 tấn, (tăng 5.827 tấn) so với năm 2020.

 - Về chăn nuôi: Ước năm 2021, tổng đàn trâu có 67.150 con, bằng 99,87% (giảm 89 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò có 168.550 con, bằng 99,74% (giảm 437 con), đàn lợn có 408.721 con, bằng 100,82% (tăng 3.308 con); tổng số gia cầm có 10,1 triệu con tăng 0,15%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2021 ước đạt 67.916 tấn, bằng 100,04% (tăng 26 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 9.815 tấn, bằng 97,37% (giảm 265 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 3.564 tấn giảm 2,62%; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 25.038 tấn, bằng 105,53% (tăng 1.312 tấn) so với năm 2020. Sản lượng trứng năm 2021 ước đạt 351.502 ngàn quả, bằng 103,57% (tăng 12.116 ngàn quả) so với năm 2020.

 b) Lâm nghiệp

 Năm 2021, diện tích rừng trồng mới sơ bộ toàn tỉnh ước tính đạt 8.857 ha, tăng 3,75% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 3.001 nghìn cây, giảm 8,87%; sản lượng gỗ khai thác đạt 471.089 m3, tăng 18,33%; sản lượng củi khai thác đạt 471.868 ste, giảm 1,66%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 13,8 ha, giảm 83,80% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha, giảm 97,91%; diện tích rừng bị chặt phá là 12,57 ha, giảm 52,38%.

 c) Thủy sản

 Tổng sản lượng thủy sản năm 2021 sơ bộ đạt 54.485 tấn, giảm 1,78% so với năm trước, bao gồm: Cá đạt 32.737 tấn, giảm 1,11%; tôm đạt 6.420 tấn, tăng 1,39%; thủy sản khác đạt 15.328 tấn, giảm 4,4%.

 Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay sơ bộ đạt 15.797 tấn, giảm 1,15% so với năm trước, bao gồm cá đạt 7.137 tấn, giảm 1,45%; tôm đạt 5.334 tấn, tăng 1,93%; thủy sản khác đạt 3.326 tấn, giảm 5,13%.

 Sản lượng thủy sản khai thác năm 2021 sơ bộ đạt 38.688 tấn, giảm 2,03% so với năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 25.600 tấn, giảm 1,02%; tôm đạt 1.086 tấn, giảm 1,18%; thủy sản khác đạt 12.002 tấn giảm 4,19%.

 3. Sản xuất công nghiệp: Diễn ra trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã linh hoạt triển khai các giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn giữ vững vai trò hạt nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Hà Tĩnh. Ước tính năm 2021, Formosa Hà Tĩnh sản xuất đạt 5,4 triệu tấn thép tăng 23,21% so với năm 2020. Việc Formosa đi vào hoạt động sản xuất ổn định, hiệu quả đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh.

 + Tính chung cả năm 2021, Chỉ số sản xuất toàn ngành Công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,03%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,93%, đóng góp 14,61 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,09%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,77%, làm giảm 0,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.

 + Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2021 ước tính tăng 12,64% so với năm trước đóng góp 4,46 điểm % vào mức tăng chung .Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh với mức tăng 18,68 %, đóng góp 4,62 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng 11,95%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,54%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,10% so với cùng kỳ làm giảm 0,08 điểm %.

 + Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2021 tăng 22,71% so với năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 51,3% so với năm trước.

 4. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm tăng 15,6% so với cùng kỳ; số vốn đăng ký tăng 80% là tín hiệu tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế. Năm 2021 vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

 Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh thành lập mới 1.086 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 13.259 tỷ đồng (tăng 15,6% về số lượng và 80% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,8 tỷ đồng). Một số doanh nghiệp thành lập mới có số vốn đăng ký lớn như CTCP Tập đoàn D&N (2.600 tỷ đồng), CTCP Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh (1.800 tỷ đồng); Công ty TNHH T&T Land Thạch Bình (900 tỷ đồng).

 Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 417 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2020), 136 doanh nghiệp giải thể (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020); doanh nghiệp có phát sinh thuế chỉ chiếm 47%.

 5. Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 khá ảm đạm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay nên UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc thực hiện cách ly y tế nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2021 ước tính đạt 46.778,58 tỷ đồng, giảm 0,42% so với năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2021 ước tính đạt 41.939,38 tỷ đồng, chiếm 89,65% tổng mức và tăng 1,99% so với năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 3.491,20 tỷ đồng, giảm 18,51%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 36,37%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.339,65 tỷ đồng, giảm 13,87%.         Doanh thu vận tải, kho bãi năm 2021 ước đạt 4.341,47 tỷ đồng, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 839,80 tỷ đồng, giảm 42,82% so với năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.623,56 tỷ đồng, giảm 8,60% so với năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 878,11 tỷ đồng, tăng 12,47% so với năm trước.

 Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.584,97 nghìn HK, giảm 42,83% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 1.927,50 triệu HK.km, giảm 46,40% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 29.179,13 nghìn tấn, giảm 9,1% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 744,17 triệu tấn.km, giảm 10,57% so với năm trước. 

Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do giá thép tăng cao nên Formosa đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh).

  Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa (gần 2,9 tỷ USD).

  6. Thu - Chi ngân sách: Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid -19, đã làm ảnh hưởng hầu hết đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến công tác thực hiện nhiệm vụ NSNN. Song với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, cùng với sự phối hợp của các sở, ngành đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý thu, phân bổ, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết... góp phần quan trọng trong khống chế, kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân.

- Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 15.302,89 tỷ đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.881,28 tỷ đồng tăng 11,49% so với năm 2020, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh ước đạt 2.732,68 tỷ đổng giảm 20,64% so với năm 2020; các khoản thu về nhà đất ước đạt 3.043,80 tỉ đổng tăng 59,60%; thu phí,lệ phí ước đạt 735,47 tỷ đồng tăng 55,41% .... Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 6.668,98 tỷ đồng, tăng 218,71% so với năm trước.

 - Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 19.975,13 tỷ đồng bằng 105,59% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 9.662,41 tỷ đồng chiếm 48,37% tổng chi, tăng 15,25% so với năm trước; chi thường xuyên đạt 10.296,48 tỷ đồng chiếm 51,55% tổng chi, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020.

 7. Hoạt động ngân hàng: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh triển khai quyết liệt các biện pháp ứng phó với tác động của dịch; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn do covid-19, để sớm phục hồi sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai quyết liệt công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Nhờ đó, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt hoạt động.

Trong năm 2021 vừa qua mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2021 đạt 87.699 tỷ đồng, tăng 25,3%, so với cuối năm 2020. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 11.402 tỷ đồng, tăng (tăng 28,56% so với cuối năm 2020). Dư nợ cho vay đến 30/12/2021 ước đạt 70.465 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2020, đạt 96,3% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 46.767 tỷ đồng (chiếm 26,93% tổng dư nợ), tăng 26,93% so với cuối năm 2020; dư nợ trung dài hạn đạt 23.698 tỷ đồng (chiếm 33,95% tổng dư nợ), giảm 0,84% so với cuối năm 2020. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 35,91% so với đầu năm; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 175,96 % so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và nằm trong giới hạn cho phép, nợ xấu chiếm 0,7% dư nợ toàn địa bàn.

 8. Hoạt động Vốn đầu tư - Xây dựng: Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, một số địa bàn tại các huyện, thành phố, thị xã phải thực hiện giãn cách xã hội và phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án trên địa bàn. Song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sử chủ động của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ, công tác giải phóng mặt bằng…và đăc biệt trong công tác phòng chống dịch. Vì vậy một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ và khởi công mới.

 - Hoạt động đầu tư: Năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 27.314 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch giao và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 31% GRDP, trong đó: Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.039 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tăng mạnh (tăng 51,05%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia gấp 4,67 lần so với năm 2020; nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 17.898 tỷ đồng, tăng 18,02% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như: Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó năm 2021 xúc tiến khới công nhà máy sản xuất Cell Pin, khởi công dự án nhà máy thủy điện Hương Sơn 2, dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1377 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 61,58%) do dự án Gang thép Formosa đã hoàn thành nên giảm dần đầu tư; dự án khu bến cảng Phonix, điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công.

 - Hoạt động Xây dựng: Kết quả hoạt động ngành xây dựng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2021 ước tính giảm -3,63% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid- 19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp một số khó khăn, vướng mắc thủ tục ở các bộ ngành làm chậm tiến độ  khởi công các dự án như: Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, Nhà máy điện gió HBRE, Khu đô thị Nam Cầu Phủ...

 9. Chỉ số giá tiêu dùng: Tình hình giá cả trên thị trường năm 2021 có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so với năm trước như: Nhóm hàng đồ uống, may mặc, vật liệu xây dựng, giáo dục, giao thông; tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến một số dịch vụ giải trí tiếp tục phải tạm ngừng hoạt động. Xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng trong tỉnh.

 Tính chung cả năm 2021, chỉ số giá CPI tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,96%; nông thôn tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì:  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,68%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,97%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giao thông tăng 7,54%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 9,93%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tăng 6,95% so với năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,59% 

 II. MỘT SỐ LĨNH VỰC XÃ HỘI

 1. Tình hình lao động, việc làm năm 2021 mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tuy nhiên, lao động đang làm việc trong nền kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm so với năm trước.

 Dân số trung bình năm 2021 ước tính 1.314.056 người, tăng 1,34% so với năm 2020 (tăng 17.434 người). Trong đó: Dân số thành thị 293.012 người, chiếm 22,29%; dân số nông thôn 1.021.044 người, chiếm 77,71%; dân số nam 650.793 người, chiếm 49,52% và dân số nữ 663.263 người, chiếm 50,48%.

 Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 692.514 người, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh và tăng 3,08% so với năm 2020. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 675.634 người, chiếm 97,56% so với lực lượng lao động và tăng 3,25% so với năm 2020. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 139.552 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 322.108 người, chiếm 47,67%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349.247 người, chiếm 51,69% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 120.169 người, chiếm 17,79%; ngành dịch vụ là 206.219 người, chiếm 30,52%.

 Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2021 là 22.568 người, đạt 102,58% kế hoạch năm 2021, tăng 13,45% so với năm 2020.

 Số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.880 người, chiếm 2,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 ước tính là 3,07%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với năm 2020.

 2. Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Năm 2021 thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid, các cấp , các ngành đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng kịp thời. Đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.

 Theo kết quả rà soát, năm 2021 tỷ lệ hộ nghèo là 4,68% (17.848 hộ, tương ứng 38.876 khẩu) tăng 1,17 điểm phần trăm so với năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo là 5,09% (19.426 hộ, tướng ứng 60.896) tăng 0,78 điểm phần trăm so với năm 2020. Theo báo cáo sơ bộ năm 2021 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 419.350 suất quà với tổng số tiền khoảng 112.486 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cấp khoảng 13.605 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.558 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 163.470 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 98.917 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Năm 2021 tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công khoảng 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng. Trao tặng 82 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 646 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 1.876 nhà kinh phí khoảng 119.185 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 49 nhà kinh phí khoảng 1.793 triệu đồng.

 3. Giáo dục, đào tạo: Năm học 2021 - 2022, Hà Tĩnh phấn đấu triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ với mục tiêu: đảm bảo an toàn cho học sinh và cán bộ, giáo viên trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, giữ vững chất lượng, hiệu quả giáo dục.

 Trong năm học vừa qua, toàn tỉnh có 667 trường mầm non và phổ thông, 10.636 lớp, 18.172 giáo viên và 329.333 học sinh. Trong đó: Giáo dục mầm non: 254 trường, 2.846 lớp, 4.819 giáo viên và 76.567 học sinh; Tiểu học: 221 trường (220 trường công lập, 01 trường tư thục), 4.229 lớp học, 5.775 giáo viên và 131.971 học sinh; Trung học cơ sở: 147 trường (147 trường công lập), 2.369 lớp học, 4.806 giáo viên và 78.310 học sinh; Trung học phổ thông: 45 trường (39 trường công lập, 1 trường dân lập, 5 trường tư thục), 1.192 lớp, 2.772 giáo viên và 42.485 học sinh.

 Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy năm 2021 là 1.691 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.641 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao.

 Năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 17.100 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 1.200 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.700 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 11.200 người.        

 4. Công tác Y tế: Quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, năm 2021, ngành Y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai quyết liệt giải pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc khoanh vùng rộng, phong tỏa hẹp, xét nghiệm nhanh, truy vết thần tốc để xử lý triệt để ổ dịch. Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc-xin và tiếp tục linh hoạt trong việc cách ly, điều trị cho bệnh nhân COVID-19.             

 Tổng số ca mắc Covid-19 từ ngày 04/6/2021 đến ngày 26/12/2021 là 1.558 ca mắc, toàn tỉnh đã có 11/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 280 người. Tính đến ngày 25/12: đối với người từ 18 tuổi trở lên đã tiêm ít nhất 01 mũi đạt 98%; số đã tiêm mũi 2 đạt 85%; 97% trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi đã được tiêm mũi 1. Ngành Y tế đang triển khai tiêm vắc xin đợt 20, 21, 22 cho người từ 18 tuổi trở lên và tiêm vắc xin đợt 3, 4 cho trẻ em.

 Qua đánh giá, xác định mức độ dịch và tình hình diễn biến dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Sở Y tế ra thông báo Số 5166/TB- SYT ngày 27/12/2021 theo đó  cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh theo cấp độ 2 - nguy cơ trung bình.

 Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. Ngoài ra, còn có 9 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 85,93% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 99,62%), 93 ca viêm não do vi rút (tăng 106,66%), 39 ca mắc bệnh quai bị (giảm 69,04%), 133 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 24,0%); 287 ca mắc lỵ a míp (tăng 11,24%); 723 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 13,68%), 16.237 ca mắc bệnh cúm (giảm 26,56%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.

 Tổng số người nhiễm mới HIV có 55 người, 50 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS, so năm 2020 số người nhiễm mới HIV giảm 20 người (giảm 26,67%), số người chuyển thành AIDS giảm 20 người (giảm 28,57%), số người chết vì AIDS giảm 7 người (giảm 77,77%).

 Số vụ ngộ độc tập thể năm 2021 có 3 vụ, với 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1.244 ca ngộ độc đơn lẻ; So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc tập thể tăng 29 người (tăng 120,83%), số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 95 ca (tăng 8,26%).

 5. Công tác đảm bảo trật tự ATGT, gắn với phòng chống dịch COVID-19 đã được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và sự vào cuộc của các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, chính quyền địa phương các cấp, tình hình TNGT giảm trên cả 3 tiêu chí.

 Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2021 xảy ra 115 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 96 người, bị thương 50 người, thiệt hại tài sản 844 triệu đồng. So với với năm trước: giảm 9 vụ (giảm 6,50%), giảm 7 người chết (giảm 6,8%), giảm 14 người bị thương (giảm 21,87%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.

  6. Các hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm từ các cấp, các ngành cùng toàn thể người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ với tinh thần “Tuổi trẻ Hà Tĩnh tình nguyện, sáng tạo vì cộng đồng”.

Năm 2021 đã phát hiện 164 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 123 vụ, tổng số tiền xử phạt 2.867,85 triệu đồng; so với năm 2020 tăng 116 vụ (tăng 241,67%) đã phát hiện, tăng 80 vụ (tăng 186,05%) đã xử lý, tăng 2.538,45 triệu đồng (tăng 770,63%).

 Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai trong năm đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng.

 Năm 2021 xẩy ra 63 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 6.355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 4 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa.

III. GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Năm 2022 tiếp tục là một năm khó khăn đối với tỉnh nhà trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH khi mà tình hình Dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp; mặc dù tỷ lệ tiêm chủng ở trong nước, trong tỉnh dần được phủ kín nhưng chưa đồng đều; các chuỗi cung ứng và các liên kết sản xuất có thể bị gián đoạn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động; giá năng lượng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ gây áp lực lớn đến lạm phát. Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân. Đứng trước những khó khăn nêu trên, để hoàn thành đồng thời 02 nhiệm vụ: Vừa chiến thắng dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho người dân, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:

 Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh. Không chủ quan, lơ là; cách ly có chọn lọc, linh hoạt, thích ứng với trạng thái bình thường mới; nâng cao năng lực xét nghiệm tại các cửa khẩu, bến cảng cùng với năng lực điều trị bệnh Covid-19, năng lực tiêm chủng tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân.

Hai là, huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, khơi dậy sức mạnh văn hoá của người Việt Nam để mỗi người dân là một chiến sĩ trong việc tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và gia đình, bảo vệ doanh nghiệp, cơ quan, trường học không bị nhiễm virus.

Ba là, triển khai thực hiện kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo việc làm và thu nhập tối thiểu cho người lao động.   

Bốn là, chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics.

Năm là, tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong tất cả các hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước, nhất là những nơi thực hiện dịch vụ hành chính công - xem đây là nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng chính quyền điện tử phục vụ người dân, từ đó thay đổi tư duy quản lý, phương pháp quản trị điều hành trong toàn xã hội. Tranh thủ thời cơ đẩy nhanh việc số hoá dữ liệu ở tất cả cơ quan, nhất là dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục, y tế./.

                                                                                                                                                                                                                                                        CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNH

 



[1] Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tỉnh Thanh Hóa: 8,85%; Nghệ An: 6,2%; Quảng Bình: 4,83%; Quảng Trị 6,5%; Thừa Thiên Huế: 4,36%.

[2] Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%

Gửi bởi Phòng Tổng hợp    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:44.201.94.72

Thống kê

Lượt truy cập  14311
Đang trực tuyến   21