MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh quý I năm 2019

3/29/2019

1. Tài chính, ngân hàng

          -  Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2019 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu tích cực nhưng để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2019 thì vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Trong thu cân đối ngân sách thì thu hải quan chiếm 52% và thu nội địa chiếm 27,7%. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 43,1% tổng thu ngân sách Nhà nước. Bên cạnh kết quả thu hải quan đạt khá (đạt 23,56%) thì thu nội địa còn đạt thấp so với dự toán năm 2019.

          Cùng với việc thực hiện thu ngân sách thì việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 35,8% tổng chi, tăng 119,5% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 30,54% tổng chi, tăng 7,72% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 33,5% tổng chi và giảm 3,27% so với cùng kỳ năm 2018.

          - Hoạt động ngân hàng:          Trong qúy I năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng năm 2019. Trong 3 tháng đầu năm 2019, các giao dịch ngân hàng diễn ra sôi động. Nguồn vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,6-1,0% đối với tiền gửi không kỳ hạn; từ 4,3-5,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-6,5%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên từ 6-6,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn, từ 9-10%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay thông thường từ 6,8-9% đối với khoản vay ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch.

          Bên cạnh kết quả đạt được thì mặc dù nợ xấu có xu hướng giảm so với cuối năm 2018 nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn và khó xử lý. Nguyên nhân là do một số doanh nghiệp lớn làm ăn kém hiệu quả (như doanh nghiệp Bình Hà chiếm 54,9% tổng nợ xấu và nợ xấu cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP tính đến 28/2/2019 chiếm 8,25%).

          2. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2019 giảm 0,21% so tháng trước, tăng 1,32% so cùng tháng năm trước và tăng 0,11% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước thì khu vực thành thị giảm 0,38% và khu vực nông thôn giảm 0,09%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm là: Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục có chỉ số giá không thay đổi so với tháng trước; 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,96%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% và nhóm giao thông tăng 1,49%. Còn lại có 6 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,68%; đồ uống và thuốc lá giảm 1,38%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,57%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,43%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%; bưu chính viễn thông giảm 0,46%.

Nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 3 năm 2019 so với tháng trước chủ yếu là do: (1) Là tháng sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt các nhóm hàng hóa lương thực, thực phẩm, đồ uống, hàng may mặc...đều có xu hướng giảm mạnh so tháng trước; (2) Giá xăng dầu bình quân giảm so tháng trước; (3) Giá vật liệu xây dựng và dịch vụ cho thuê nhà tăng. Cùng với đó, khối lượng tiêu dùng điện và nước sinh hoạt cũng tăng cao hơn so với tháng trước; (4) Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn trong nước ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, việc tiêu thụ gặp khó khăn ảnh hưởng đến giá các mặt hàng thịt lợn.

CPI 3 tháng đầu năm 2019 tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,21% và khu vực nông thôn tăng 1,61%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,25%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,58%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,10%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,22%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,35%; giao thông giảm 2,92%; bưu chính viễn thông giảm 1,20%; giáo dục tăng 0,47%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 3,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân quý I năm 2019 tăng ở mức thấp, điều đó thể hiện công tác kiềm chế lạm phát đang được triển khai thực hiện với những tín hiệu tích cực. Nguyên nhân làm cho thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ quý I năm 2019 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước là do: Dịp Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa quý nên đã làm cho các nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hoa, cây cảnh, giao thông, đồ uống, thuốc lá tăng mạnh so với quý trước. Cùng với đó, nhiều mặt hàng tăng giá mạnh do việc điều chỉnh các chính sách về giá cũng đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung như: Giá dịch vụ y tế, giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu, vàng và đô la Mỹ.

Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 4/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước. Trong đó các nhóm hàng hóa như giá khách sạn, nhà nghỉ, thực phẩm hải sản dự kiến tăng cao do bước vào mùa du lịch biển. Cũng do thời tiết chuyển mùa nắng nóng nên nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện sẽ tăng. Bên cạnh đó thì giá điện sinh hoạt vừa có quyết định tăng giá kể từ ngày 18/3/2019 sẽ tác động đến giá các nhóm mặt hàng tiêu dùng.

          3. Đầu tư và xây dựng

          3.1. Đầu tư phát triển

         

          Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I hàng năm giai đoạn 2015-2019 liên tục giảm mạnh qua các năm. Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội quý I năm 2019 ước tính đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, giảm 29,33% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 23,23% so với quý I năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (quý I năm 2015 chiếm 86,1% tổng vốn đầu tư), nhưng nay do dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh (quý I năm 2019 chỉ chiếm 19,1% tổng vốn đầu tư); tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I năm 2019 giảm 74,79% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 5,15% so với quý I năm 2015. Mặc dù nguồn vốn Nhà nước và vốn ngoài nhà nước tuy có tăng nhẹ nhưng khi chưa có các dự án lớn được triển khai thực hiện trên địa bàn, trong khi Dự án Formosa đã hoàn thành thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đang tiếp tục có xu thế giảm.

          3.2. Xây dựng

          Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm 88,09% tổng nguồn vốn đầu tư. Nhưng do nguồn vốn đầu tư phát triển quý I năm 2019 giảm 29,33% nên giá trị sản xuất của ngành xây dựng chỉ tăng nhẹ với mức tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động xây dựng trong qúy I năm 2019 chủ yếu là các công trình nhà không để ở (tăng 105,8% so với cùng kỳ năm trước) và các công trình công trình kỹ thuật dân dụng (tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước). Hiện nay trên địa bàn các công trình dự án trọng điểm vẫn đang triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ như: Dự án công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; dự án thí điểm nhà ở xã hội tại phường Thạch Linh - Thành phố Hà Tĩnh; dự án Phát triển nông thôn bền vững vì người nghèo Hà Tĩnh (SRDP); dự án chung cư Winhouse Hàm Nghi - Hà Tĩnh; dự án Vinhomes New centrel Hà Tĩnh; các công trình xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II; cầu Cửa Hội vượt sông Lam nối hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh; công trình nâng cấp tuyến đường ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Áng; cầu cảng số 4 Vũng Áng...

          4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh

Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2019, toàn tỉnh thành lập mới 181 doanh nghiệp, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 2.540 tỷ đồng, tăng 136% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 14 tỷ đồng/doanh nghiệp. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao, điều đó thể hiện quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, 3 tháng đầu năm 2019 đã giải quyết được 1.308 việc làm cho lao động mới. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 907 lao động, chiếm 69,3% trong tổng số, quy mô bình quân 6,2 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 401 lao động, chiếm 30,7% trong tổng số, quy mô 11,8 lao động/doanh nghiệp.

Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động là 40 doanh nghiệp (tăng 11%) và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 114 doanh nghiệp (tăng 16,3%) so cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, trong 3 tháng đầu năm đã có 99 doanh nghiệp hoạt động trở lại (tăng 65%) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng cũng tăng mạnh, thể hiện các doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý I/2019 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 53,34% số doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 15,56% khẳng định SXKD tốt lên và 37,78% khẳng định giữ ổn định) và có 46,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý II/2019 so với quý trước, có 73,34% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 35,56% số doanh nghiệp dự báo tốt lên và 37,78% số doanh nghiệp dự báo ổn định), bên cạnh đó còn có 26,67% số doanh nghiệp nhận định tiếp tục gặp khó khăn hơn.

Dự báo xu hướng quý II/2019 so với quý trước có 36,4% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,8% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt giảm; 37,8% doanh nghiệp có khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 37,8% doanh nghiệp có khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 71,1% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 60% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 53,3% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” và 37,8% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.       

Đánh giá về biến động lao động quý I/2019 so với quý IV/2018, có 80% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,7% khẳng định tăng lên và 73,3% khẳng định giữ ổn định) và 20% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý II/2019 so với quý trước, có 80% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 4,4% khẳng định tăng lên và 75,6% khẳng định giữ ổn định) và có 20% số doanh nghiệp khẳng định lao động giảm.

          5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

          5.1. Nông nghiệp

          - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong quý I/2019, tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2018 và gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân năm 2019.

          + Kết quả sản xuất vụ Đông 2018: Với điều kiện thời tiết thuận lợi nên nhìn chung kết quả sản xuất một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 13.212 ha, bằng 102,29%, tăng 296 ha so với năm trước. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 như đã phản ánh ở phần trên.

          + Kết quả sản xuất vụ Xuân 2019: Với các giải pháp trong sản xuất vụ Xuân 2019 như: Cung cấp giống và phân bón có chất lượng và giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Xuân 2019. Tổng diện tích gieo trồng cây vụ Xuân 2019 ước đạt 85.799 ha, bằng 99,68%, giảm 274 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Xuân như lúa, ngô, rau năm nay đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích lạc giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân do hiện nay giá lạc giống cao, làm lạc cần nhiều công chăm sóc nhưng giá bán lại thiếu ổn định nên người dân đã chuyển đổi sang sản xuất các loại cây trồng khác. Cùng với đó là một số đất trồng lạc nằm trong quy hoạch đường ven biển bị thu hồi để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nên diện tích giảm. Hiện nay các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân.

          + Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Thời tiết đang bước vào tiết Vũ Thủy trời âm u, có mưa, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch bệnh phát sinh gây hại đối với cây trồng. Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Bệnh đạo ôn xuất hiện rải rác trên các giống lúa P6, Xi23, NX30, XT28, TBR225, VTNA2, VTNA6...Tính đến ngày 4/3/2019, diện tích nhiễm bệnh là 151 ha (Đức Thọ 70 ha, Cẩm Xuyên 55ha, Nghi Xuân 9 ha, Hồng Lĩnh 5 ha, Lộc Hà 4,5 ha, Thạch Hà 2 ha, thị xã Kỳ Anh 2 ha, Kỳ Anh 1 ha, Hương Khê 1 ha, Vũ quang 1 ha, Hương Sơn 0,5 ha), trong đó nhiễm nặng 1,75 ha, tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40%. Hiện nay, cây lúa đang thời kỳ đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát sinh gây hại và có nguy cơ lây lan trên diện rộng. Bên cạnh bệnh đạo ôn thì các đối tượng như: Chuột, bọ trĩ, rầy nâu, rầy lưng trắng cũng đã xuất hiện gây hại đối với cây lúa. Bệnh héo rũ gốc mốc đen, gốc mốc trắng, lở cổ rễ trên cây lạc và nhóm sâu ăn lá, nấm trên cây rau cũng đã phát sinh sây hại nhưng mức độ ảnh hưởng còn nhẹ.

          Để phòng trừ sâu, bệnh gây hại, đối với bệnh đạo ôn cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi chặt chẽ diễn biến của bệnh, khi phát hiện bệnh ngừng bón đạm, không phun các loại phân bón qua lá có chứa đạm, duy trì mực nước hợp lý và tiến hành xử lý bằng một trong các loại thuốc như: Beam 75WP, Kasoto 200SC, Fuji one 40WP, Fu Nhật 40WP, Kabim 30WP, Ninja 35SE, Ka-Bum 800WP...Chỉ phun thuốc khi trời tạnh ráo, sau khi phun thuốc 5-7 ngày, điều tra nếu thấy vết bệnh cấp tính thì tiến hành xử lý thuốc lần 2. Đối với ruồi đục nõn cũng cần phát hiện sớm (nhổ cây lúa lên đập nhẹ 2-3 cái sẽ thấy sâu non (dòi) rơi xuống) tiến hành phòng trừ kịp thời bằng một trong các loại thuốc hóa học sau: Padan 95SP, Virtako 40WG, Tango 800 WP, Tasieu 1.9EC...Trên cây lạc cần theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen, gốc mốc trắng, lở cổ rễ và nhóm sâu ăn lá, nấm trên cây rau...Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, cùng với việc diệt trừ các loại sâu bệnh đã phát sinh gây hại thì bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phòng trừ các đối tượng gây hại  đối với cây trồng vụ Xuân, nhất là bệnh đạo ôn.

          - Chăn nuôi: Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2019 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi (chỉ có kết quả chăn nuôi gia cầm tăng). Hoạt động chăn nuôi trong những tháng đầu năm 2019 đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tình hình dịch bệnh luôn tiềm ẩn và diễn biến phức tạp nên người chăn nuôi chậm tái đàn làm cho tổng đàn giảm. Cùng với đó, các dự án chăn nuôi bò lớn trên địa bàn tỉnh cũng đều gặp khó khăn, trong đó có Dự án chăn nuôi bò của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà là dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi ở Hà Tĩnh nhưng hoạt động kém hiệu quả, không đạt được kết quả như mong đợi nên nay đã ngừng sản xuất chăn nuôi. Mặc dù trong thời gian qua giá các sản phẩm chăn nuôi đang khá cao nhưng đứng trước những khó khăn và thách thức như trên thì người chăn nuôi vẫn chưa giám đầu tư phát triển sản xuất. Nhìn chung, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn những tháng đầu năm 2019 cũng như thời gian tới đang thiếu sự ổn định và luôn tiềm ẩn nhiều rũi ro đối với người chăn nuôi do dịch bệnh cũng như không chủ động được thị trường tiêu thụ sản phẩm. 

          Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra dịch lở mồm long móng đối với đàn gia súc tại 28 xã, phường, thị trấn thuộc 8 huyện, thành phố (Can Lộc, Hương Khê, Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh) làm cho 3.757 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 3.711 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện tại, có 2 xã là Trung Lộc và Vượng Lộc thuộc huyện Can Lộc đang có dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày. Hiện nay, trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện trường hợp động vật mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Tuy nhiên, dịch tả lợn Châu Phi đang tiềm ẩn cao nguy cơ phát sinh trên diện rộng (đến ngày 15/3/2019, dịch đã phát sinh tại 17 tỉnh phía Bắc, trong đó có tỉnh Nghệ An). Trước tình hình đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành văn bản và tổ chức chỉ đạo thực hiện các giải pháp cấp bách chủ động ứng phó với bệnh dịch tả lợn Châu Phi, nhất là kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, buôn bán, giết mổ động vật, vệ sinh phòng dịch.

          5.2. Lâm nghiệp                                                                    

          Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán trong qúy I năm 2019 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ở các khu đô thị ngày càng bị thu hẹp.

          Bên cạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng tại gốc cũng luôn được tập trung chỉ đạo thực hiện, tình hình quản lý bảo vệ rừng ổn định, các vụ vi phạm được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm. Trong quý I năm 2019, không có cháy rừng xẩy ra nhưng đã phát hiện, xử lý 56 vụ vi phạm, tịch thu 63,2 m3 gỗ và 6 kg động vật rừng.

          5.3. Thuỷ sản

Mặc dù chưa có sự tăng trưởng đột phá nhưng trong 3 tháng đầu năm 2019 hoạt động sản xuất thủy sản vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Với những chuyến biển đầu năm của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa, cùng với việc các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi là nguyên nhân làm cho sản lượng thủy hải sản tăng so với cùng kỳ.

          Năm 2019, nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, đã xây dựng kế hoạch với tổng diện tích thả nuôi toàn tỉnh là 2.750 ha (tăng 49 ha so với năm 2018), trong đó: Nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao là 920 ha; bán thâm canh là 450 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến 1.380 ha. Với sản lượng tôm toàn tỉnh năm 2019 phấn đấu đạt 4.800 tấn. Để cung cấp nguồn giống chất lượng cao cho người dân nuôi tôm trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Sản xuất tôm giống Thông Thuận ở xã Cương Gián (Nghi Xuân) đã nhập khẩu hơn 400 cặp tôm bố mẹ từ Mỹ về cho sinh sản. Đồng thời đầu tư máy nâng nhiệt của Nhật về đảm bảo điều kiện cho con tôm phát triển tốt nhất. Hiện tại, đơn vị đã sản xuất được 40 triệu con tôm giống khỏe mạnh, được kiểm dịch đầy đủ để cung cấp ra thị trường. Thời điểm này, bà con nông dân đang khẩn trương thu hoạch tôm vụ đông muộn và tập trung cải tạo ao hồ nuôi để xuống giống vụ Xuân Hè năm 2019. Trong quý I năm 2019 không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy hải sản.

          6. Sản xuất công nghiệp

          Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2019 ước tính tăng 14,08% so với tháng trước và tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 29,68% so với tháng trước và giảm 9,27% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,66% so với tháng trước và tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 11,3% so với tháng trước và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,15% so với tháng trước và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán dài ngày trong tháng 2/2019 thì hoạt động sản xuất công nghiệp đã trở lại sản xuất ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo.

          Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 33,83%). Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì quý I năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng cao và ổn định. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất than cốc tăng 72,88%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 51,12%; sản xuất sản phẩm từ kim loại tăng 20,89%...Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Khai thác quặng kim loại giảm 80,19%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 37,71%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 26,91%...Trong những năm qua cũng như hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ dự án Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép, điện), từ lúc dự án đi vào hoạt động đã đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cũng như kinh tế chung của tỉnh. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 3 tháng đầu năm chỉ bằng 92,21% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 14,55%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,06%; sản xuất và phân phối điện giảm 13,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,99% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm khi không có yếu tố Fomorsa là do một số ngành cấp II có tỷ trọng lớn giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phụ giảm 13,3%; chế biến gỗ giảm 37,7%; in ấn giảm 18,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (gạch ngói, bê tông tươi) giảm 26,91%. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm do trong tháng 02/2019 Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh ngừng vận hàng tổ máy số 2 (từ ngày 01-20/2) để khắc phục sự cố bất thường do đó sản lượng giảm so cùng kỳ. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thời gian tới dự kiến vẫn duy trì mức tăng khá và kết quả hoạt động sản xuất từ dự án Formosa vẫn là nhân tố quyết định mức tăng trưởng chung của toàn ngành.

          Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2019 tăng 16,79% so với tháng trước và tăng 18,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 46,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Chế biến thực phẩm tăng 51,5%; sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 56%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 26,3%; sản xuất sản phẩm sản xuất than cốc tăng 18,8%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: May trang phục giảm 33,5%; cưa, xẻ, bào gỗ giảm 48,9%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét giảm 25,6%...

          Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2019 tăng 38,31% so với tháng trước và tăng 117,68% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù chỉ số tiêu thụ có tăng nhưng mức tăng chỉ số tồn kho vẫn cao hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến trên địa bàn đang gặp nhiều khó khăn. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc tăng 4,1 lần; cưa, xẻ, bào gỗ tăng 71,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 214,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 132,9%.

          Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2019 giảm 0,02% so với tháng trước và giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019 giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 6,7% và 3%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ 3,2%.

          6. Thương mại, dịch vụ

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 3/2019, ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 3.158,95 tỷ đồng, tăng 13,25% so cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Ô tô tăng 54,55%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 14,63%; lương thực, thực phẩm tăng 15,94%...Sau khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Kỷ Hợi thì sức mua hàng hóa đã giảm xuống trong tháng 3 làm cho mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2019 thấp hơn so với mức tăng tháng trước.

Với mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá quý I năm 2019 so với cùng kỳ năm trước đạt 13,88%, trong khi chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,44%, thể hiện lượng hàng hóa tiêu thụ tăng khoảng 9,6%%, điều này cũng đồng nghĩa với việc mức sống và sức mua hàng hóa của người dân đang ngày càng tăng lên. Để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao và bình ổn giá cả thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi. Ngay từ đầu năm 2019, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp bình ổn giá; chỉ đạo các đơn vị tổ chức hơn 30 chuyến hàng lưu động về các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với giá cả hợp lý; các doanh nghiệp trên địa bàn có hệ thống phân phối lớn (đại lý cấp I) và hệ thống bán lẻ phục vụ người tiêu dùng đã thực hiện dự trữ hàng hóa với giá trị trên 100 tỷ đồng; hàng hóa đa dạng về mẫu mã, đảm bảo chất lượng và phù hợp nhu cầu của người dân...Vì vậy, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn trong quý I năm 2019 vẫn được đáp ứng đảm bảo nhu cầu của người tiêu dùng, với giá cả ổn định.

Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới vẫn tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng với mức tăng không quá cao. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng...   

- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước, với mức tăng 2,25%. Như vậy, sau kỳ du lịch trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi thì nhu cầu du lịch, lễ hội, đền chùa của người dân đã tạm thời lắng xuống làm cho doanh thu hoạt động lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 3/2019 đã giảm 1,76% so với tháng trước. Tính chung quý I năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 11,86%). Trong đó, doanh thu dịch vụ ăn uống vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các hoạt động dịch vụ này (chiếm đến 92,91%). Nhìn chung, cùng với hoạt động lưu trú và dịch vụ lữ hành thì số lượng cơ sở dịch vụ ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển và nhu cầu ăn uống ngoài gia đình của người dân cũng đang có xu hướng tăng lên. Dự báo thời gian tới, khi thời tiết nắng nóng lên và mùa du lịch biển đến sớm hơn thì kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn sẽ có mức tăng cao hơn so với những tháng đầu năm. Cùng với đó thì cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động lưu trú, ăn uống và các dịch vụ lữ hành và hỗ trự du lịch trên địa bàn cũng đang ngày càng được đầu tư phát triển, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tăng cao của người dân trong mùa du lịch năm 2019.

          - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 3/2019 giảm 4,18% so với tháng trước. Các thành phần kinh tế đều giảm so với tháng trước, trong đó tác động giảm mạnh nhất là ở thành phần kinh tế cá thể và thành phần kinh tế tư nhân, đây cũng là hai thành phần chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu dịch vụ khác. Nguyên nhân giảm chủ yếu do lượng khách giảm nên doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ cáp treo khu du lịch Chùa Hương dự ước giảm (giảm 70,97% so với tháng trước và giảm 39,94% so với cùng kỳ) làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ thành phần tư nhân giảm. Cùng với đó thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí, dịch vụ sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình và các dịch vụ làm đẹp, cắt tóc gội đầu cũng đã giảm mạnh so với những tháng trước, trong và sau dịp Tết.

Tính chung quý I năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng không cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 6,115). Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí (tăng 10,56%); sửa chữa đồ dung cá nhân, gia đình (tăng 8,34%) và dịch vụ khác (tăng 8,87%). Dự kiến sang tháng 4/2019 do trùng vào dịp nghỉ giổ tổ Hùng Vương và nghỉ lễ 30/4, 1/5 nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí tăng sẽ tăng làm cho doanh thu dịch vụ khác tăng.

          6.2. Hoạt động vận tải

          - Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 2,11 triệu lượt hành khách, tăng 0,07%, khối lượng luân chuyển đạt 364,75 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,2% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 161,08 tỷ đồng, tăng 0,28% so với tháng trước. Như vậy, hoạt động vận tải hành khách đã trở lại mức ổn định bình thường không còn tăng cao như nhưng tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán. Tính chung quý I năm 2019, số lượng hành khách vận chuyển ước tính tăng 5,13% với số lượng luân chuyển ước tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đó đã làm cho doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước tính tăng 9,76% so với cùng kỳ năm trước. Phương tiện kinh doanh vận tải hành khách trên địa bàn ngày càng được đầu tư nâng cấp với nhiều đầu xe chất lượng cao (các dòng xe limousine) khiến cho giá vé dịch vụ vận tải hành khách tăng hơn nhưng vẫn nhận được sự lựa chọn của hành khách.

          - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 2,85 triệu tấn, tăng 0,35% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 66,99 triệu tấn.km, tăng 1,64%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 245,1 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước. Tính chung quý I năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 10,8%, với khối lượng luân chuyển ước tăng 12,56%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù thời tiết tương đối thuận lợi nhưng do đầu năm các công trình xây dựng cơ bản triển khai còn ít nên hoạt động vận tải hàng hóa những tháng đầu năm 2019 không có biến động nhiều.

          - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 3/2019 ước đạt 43,59 tỷ đồng, tăng 7,55% so tháng trước và giảm 42,5% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2019, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt ước 142,65 tỷ đồng, giảm 27,48% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ kết quả doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do Trạm thu phí BOT Cầu Rác trên QL1A dùng để thu phí BOT tuyến tránh thành phố Hà Tĩnh đã tạm dừng thu phí từ 0 giờ ngày 21/2/2019 để tính toán lại phương án tài chính, theo yêu cầu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

Nhìn chung, trong qúy I năm 2019 mặc dù nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nhưng đã được các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn đáp ứng đầy đủ. Dự kiến trong thời gian tới vận tải hành khách nhìn chung ổn định và chỉ tăng nhẹ, nhưng vận tải hàng hóa sẽ tăng cao hơn so với những tháng đầu năm. Nguyên nhân do các công trình xây dựng cơ bản sẽ được triển khai thực hiện nhiều hơn nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa sẽ tăng.

          7. Các vấn đề xã hội

          7.1. Tình hình lao động việc làm và đời sống dân cư

          - Lao động, việc làm: Tình hình lao động việc làm quý I năm 2019, có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt Hà Tĩnh là một trong những địa phương thực hiện tốt phong trào xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần thay đổi diện mạo đời sống vật chất, tính thần ở khu vực nông thôn. Ước tính quý I/2019, đã giải quyết việc làm cho 6.431 lao động, tăng 3,28% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 3.425 người, tăng 2,82%; xuất khẩu lao động là 1.746 người, tăng 6,08% và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 1.260 người, tăng 0,8%.

          Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên quý I/2019 ước tính là 720 ngàn người, chiếm 56,3% tổng dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 695 ngàn người (chiếm 96,53% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 25 ngàn người (chiếm 3,47% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 2,3%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 323,87 ngàn người, chiếm 46,6%; công nghiệp xây dựng 170,2 ngàn người, chiểm 24,5% và dịch vụ 200,93 ngàn người chiếm 28,9%.

          - Đời sống dân cư: Trong quý I năm 2019 tình hình đời sống dân cư vẫn ổn định, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói. Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu nên được cải thiện hơn, cùng với đó nhờ thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho người dân sản xuất nông nghiệp và làm thêm các ngành nghề khác để tăng thêm thu nhập. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời. Các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp Tết. Sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra. 

7.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội

          - Công tác giảm nghèo: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền, các dân tộc và các nhóm dân cư. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thực sự đi vào cuộc sống, người nghèo đã được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững (tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 6,92%). Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương vẫn còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.

          - Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 33.508 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 59.830 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 93.537 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 39.362 thẻ BHYT cho người có công.

          Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 207.177 suất quà với tổng kinh phí là 59,8 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 94.114 suất với số tiền 21,354 tỷ đồng (quà Trung ương 54.169 suất, kinh phí 11,062 tỷ đồng; quà địa phương 39.945 suất, kinh phí 10,292 tỷ đồng); qcho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là 10.825 suất với kinh phí là 3,668 tỷ đồng; qcho người nghèo 34.533 suất với kinh phí 13,744 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 47.425 suất với kinh phí là 10 tỷ đồng; qcho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.489 suất với kinh phí là 2,928 tỷ đồng; quà cho đối tượng khác 13.791 suất với kinh phí là 8,106 tỷ đồng. Đồng thời, trao 2 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 83 triệu đồng và xây mới 1 nhà tình nghĩa, trị giá 40 triệu đồng.

    7.3. Hoạt động giáo dục đào tạo

          - Giáo dục phổ thông:

          Học kỳ 1 năm học 2018-2019, Ngành GD&ĐT đã tập trung thực hiện Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT ngày 10/8/2018 của Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục năm học 2018-2019; Nghị quyết số 96/2018/NQ-HĐND ngày 18/7/2018 về phát triển giáo dục mầm non và phổ thông tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đề ra.

    + Giáo dục mầm non: Tổng số và tổng số giáo viên mầm non, học sinh nhà trẻ và học sinh mẫu giáo giảm với mức giảm tương ứng là 7,33%, 10,43% và 0,19%. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ có nhiều chuyển biến tốt: Tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo là 94,88% (trẻ 5 tuổi chiếm 99,98%); tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân mẫu giáo là 5,4%; suy dinh dưỡng thấp còi mẫu giáo là 6,9%.

          + Giáo dục tiểu học: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.456 người, tăng 2,21% (tăng 118 người); tổng số học sinh có 111.862 em, tăng 9,11% (tăng 9.344 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 110.379 em, chiếm tỷ lệ 98,67%.

          + Trung học cơ sở: Tổng số giáo viên giảng dạy 4.899 người, giảm 1,45% (giảm 72 người); tổng số học sinh có 75.420 em, giảm 0,27% (giảm  207 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở là 74.607 em, chiếm tỷ lệ 98,92%.

          + Trung học phổ thông: Tổng số giáo viên giảng dạy 2.790 người, giảm 3,19% (giảm 92 người); tổng số học sinh có 44.267 em, tăng 1,57% (tăng 685 em) so cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT là 44.123 em, chiếm tỷ lệ 99,67%.

Ngoài ra, công tác nghiên cứu khoa học trong cán bộ, giáo viên và học sinh tiếp tục được đẩy mạnh. Trong cuộc thi khoa học - kỹ thuật cho học sinh trung học, toàn tỉnh có 144 dự án (lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi 50 dự án; lĩnh vực vật lý năng lượng 65 dự án; lĩnh vực sinh hóa 23 dự án; lĩnh vực phần mềm hệ thống 6 dự án). Kết quả có 8 giải nhất, 17 giải nhì, 26 giải ba và 34 giải khuyến khích; trong đó lựa chọn 6 dự án tham gia vòng thi cấp quốc gia.

- Giáo dục đào tạo

          Năm học 2018-2019 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Theo Thông tư số 44/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội ngày 28/12/2016, quy định từ 01/7/2017 tất cả các trường cao đẳng chuyên nghiệp (trừ hệ thống sư phạm) đều chuyển thành cao đẳng giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, năm học 2018-2019 thì hệ giáo dục đào tạo ở Hà Tĩnh chỉ còn có 01 trường Đại học với số lượng giáo viên có 200 người, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,91% (trình độ trên đại học 186 người; giảm 3,63%; đại học 14 người, giảm 39,13%); số lượng học sinh là 3.162 học sinh, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,84% (hệ đại học 3.142 học sinh, hệ cao đẳng 20 học sinh); số tuyển mới có 814 học sinh (hệ đại học 794 học sinh, hệ cao đẳng 20 học sinh).

          Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo, công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp luôn được quan tâm chú trọng. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Tuy nhiên, kết quả dạy nghề quý I năm 2019 đạt thấp hơn so với cùng kỳ, đã tổ chức dạy nghề cho 744 người, giảm 18,33% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 30 người, giảm 18,91%; trung cấp nghề 143 người, tăng 21,19%; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 571 người, giảm 17,01%.

7.4. Hoạt động Y tế

Quý I/2019, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm trước, trong và sau Tết. Bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Hoàn thành bàn giao nhân lực và nhiệm vụ y tế học đường về trạm y tế cấp xã; các huyện, thành phố, thị xã đã bàn giao, tiếp nhận 415 nhân viên y tế học đường cho ngành y tế (310 nhân viên chuyển về trạm y tế xã, 105 nhân viên chuyển về bệnh viện tuyến huyện). Phát động Chương trình sức khỏe Việt Nam theo Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Đã có 87% người dân được khám tạo lập hồ sơ sức khoẻ đạt chất lượng theo quy định.

          - Tình hình dịch bệnh: Quý I năm 2019, công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Đặc biệt, công tác phòng chống dịch bệnh sởi đã triển khai mạnh mẽ từ tỉnh đến cơ sở nên xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bùng phát và lan rộng. Đồng thời, tăng cường thực hiện tiêm vắc xin sởi trong chương trình tiêm chủng mở rộng định kỳ hàng tháng; rà soát, thống kê các đối tượng chưa được tiêm vắc xin sởi hoặc chưa tiêm đầy đủ; thường xuyên hướng dẫn người chăm sóc trẻ thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Trong quý I/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh có 30 trường hợp sốt xuất huyết, 61 trường hợp sốt rét, 24 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 20 trường hợp mắc lỵ a míp, 16 trường hợp mắc bệnh sởi  và không có trường hợp nào bị tử vong.

    - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Hà Tĩnh đã tăng cường đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt là công tác xét nghiệm. Đã tăng cường công tác đào tạo nhân lực, tham gia đầy đủ các lớp hội thảo, tập huấn về công tác tư vấn, xét nghiệm do Trung ương tổ chức. Đồng thời, tổ chức tập huấn về tư vấn, xét nghiệm HIV cho tất cả cán bộ y tế tại 13 bệnh viện tuyến huyện, thị xã, thành phố; giám sát, tư vấn, hỗ trợ về nhân sự, cách bố trí, tiêu chuẩn phòng xét nghiệm; hỗ trợ trang thiết bị cho các phòng xét nghiệm sàng lọc HIV; đầu tư các trang thiết bị hiện đại như tủ an toàn sinh học, dàn ELISA và các trang thiết bị khác để phục vụ tốt công tác xét nghiệm. Quý I năm 2019, Hà Tĩnh có 27 trường hợp nhiễm HIV (tăng 12 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 25 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 8 trường hợp) và 01 trường hợp chết vì AIDS.

    - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Quý I/2019 là thời điểm tùng với Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nên nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh. Vì vậy, để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và lễ hội Xuân, Ban Chỉ đạo liên ngành An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh. Toàn tỉnh đã thành lập 284 đoàn thanh tra, kiểm tra 4.021 cơ sở, đã phát hiện 363 cơ sở vi phạm và xử phạt 104 cơ sở, với tổng số tiền trên 200 triệu đồng. Đồng thời, đình chỉ hoạt động 01 cơ sở và tiến hành tiêu hủy: 10 kg giò, 10 kg chả chứa hàn the, 30 kg xúc xích, 79 kg thịt dăm bông, 40 kg táo tàu và một số số hàng hóa vi phạm an toàn thực phẩm khác...trị giá hàng hóa tiêu hủy trên 40 triệu đồng. Quý I/2019, có 409 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 18,55% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.

          - Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán: Các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và bệnh viện đa khoa tuyến huyện đã tổ chức thường trực cấp cứu 24/24 giờ và duy trì hoạt động khám, chữa bệnh, cấp cứu bình thường. Tổng số bệnh nhân còn lại đến ngày 09/02/2019 (tức ngày 05 Tết) tại bệnh viện các huyện, thành phố, thị xã và Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh là 1.866 bệnh nhân; tổng số lượt bệnh nhân khám và điều trị do va chạm giao thông, tai nạn giao thông là 578 bệnh nhân (trong đó: Mức độ nhẹ xử lý và cho về trong ngày là 237 bệnh nhân, phải nhập viện điều trị là 282 bệnh nhân, chuyển viện 59 bệnh nhân); tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do pháo, chất nổ khác là 15 bệnh nhân; tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do ngộ độc bia, rượu là 23 bệnh nhân.   

          7.5. Hoạt động văn hóa - thể thao

- Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức  với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Chào xuân Kỷ Hợi, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; Nhà hát Nghệ thuật truyền thống xây dựng chương trình văn nghệ phục vụ buổi gặp mặt kiều bào Hà Tĩnh về thăm quê hương nhân dịp Tết cổ truyền; Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Mùa xuân dâng Đảng” biểu diễn tại 13 huyện, thị xã, thành phố, từ ngày 27/01/2019 đến ngày 08/02/2019. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 03 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh.

Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan. Tổ chức khai hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh.

          - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội; đã kiểm tra diện rộng tại 140 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn toàn tỉnh, 7 lượt kiểm tra công tác quản lý và tổ chức lễ hội tại 8 di tích trong tỉnh (gồm: đền Chợ Củi, Chùa Hương, Đền Cả, Đền Truông Bát, Đền Bích Châu, Đều Lê Khôi, Di tích Miếu Ao, khu du lịch Hải Thượng Lãn Ông).

- Hoạt động thể thao: Nhân dịp đón Xuân Mậu Tuất, các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, đua thuyền, như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La tổ chức tại huyện Đức Thọ; Hội đua thuyền truyền thống thuộc Phường Trung Lương – thị xã Hồng Lĩnh; giải cờ thẻ mừng xuân Kỷ Hợi tại thành phố Hà Tĩnh; giải kéo co toàn huyện Vũ Quang; Giải bóng đá Cúp các CLB cụm An toàn tổ chức tại huyện Nghi Xuân. Giải góp phần tạo không khí sôi nổi, động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, quyết tâm giành thắng lợi ngay từ những ngày đầu năm mới.

          7.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội

          - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 16/02/2019 đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người, bị thương 4 người. So với tháng trước giảm 2 vụ, giảm 2 người chết và giảm 7 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không thay đổi, tăng 1 người chết và giảm 2 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.

          Tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 32 người và bị thương 21 người (Riêng dịp Tết nguyên đán xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 2 người và bị thương 5 người). So với cùng kỳ năm 2018 giảm 3 vụ, giảm 7 người chết và tăng 7 người bị thương.

             - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ 02-10/02/2019 (tức từ ngày 28/12/2018-06/01/2019 âm lịch) xảy ra 10 vụ phạm pháp hình sự (giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm 2018), làm bị thương 9 người; phát hiện và bắt giữ 1 vụ, 1 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy; phát hiện và bắt giữ 2 vụ, 8 đối tượng đánh bạc. Phát hiện 271 vụ, 261 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép, thu giữ 33kg pháo các loại; riêng trong đêm giao thừa phát hiện, bắt giữ 238 vụ, 221 đối tượng tàng trữ, sử dụng trái phép pháo (tăng 114 vụ so với Tết năm 2018).

7.8. Môi trường

- Tình hình cháy, nổ: Quý I/2019, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 17 vụ cháy và 2 vụ nổ (giảm 11 vụ cháy so với cùng kỳ năm 2018), làm chết 1 người và bị thương 7 người, ước tính thiệt hại về tài sản là 12,119 tỷ đồng. Trong đó có 1 vụ cháy làm 3 nhà dân bị cháy trụi thuộc huyện Hương Sơn với giá trị thiệt hại ước tính 11,35 tỷ đồng.

 - Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Quý I/2019, đã kiểm tra phát hiện 24 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 20 cơ sở với số tiền 39 triệu đồng.


 

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.80.224.52

Thống kê

Lượt truy cập  18312
Đang trực tuyến   25